Sự kiện - Vấn đề

Kiến nghị tăng cường biện pháp phòng vệ thương mại đối với thép nhập khẩu

19/10/2023 06:10
1505 Lượt xem
TCCKVN Các doanh nghiệp thép đều đồng tình với kiến nghị tăng cường điều tra áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại phù hợp để hạn chế sản phẩm thép nhập khẩu cạnh tranh không lành mạnh, bảo vệ ngành sản xuất thép trong nước.

Năng lực sản xuất còn hạn chế

Theo Cục Công nghiệp – Bộ Công Thương, năng lực sản xuất phôi thép cả nước hiện nay là khoảng 28 triệu tấn/năm, trong đó thép cuộn cán nóng (HRC) là 7-8 triệu tấn/năm, thép xây dựng (khoảng 14 triệu tấn), đảm bảo 100% cho nhu cầu tiêu dùng trong nước và một phần cho thị trường xuất khẩu.

Về cơ cấu nguyên liệu phục vụ sản xuất, 42% thép được sản từ nguyên liệu là thép phế (có nguồn gốc chủ yếu là nhập khẩu) và 58% sản xuất từ lò cao, sử dụng nguyên liệu là quặng sắt.

Về thép phục vụ ngành cơ khí, chế tạo: Nhu cầu thép cuộn cán nóng (HRC) trong nước khoảng hơn 10 triệu tấn/năm, tuy nhiên ngành thép trong nước mới sản xuất được khoảng 8 triệu HRC tấn/năm thép cuộn cán nóng HRC đáp ứng được một phần nhu cầu trong nước. Đối với thép HRC, theo dự báo sẽ tăng mạnh do tiêu thụ thép bình quân đầu người ở Việt Nam còn thấp so với thế giới (hiện khoảng 240 kg/người), tỷ lệ đô thị hóa Việt Nam còn thấp và dự kiến tăng mạnh khi các ngành chế biến, chế tạo và xây dựng tăng trong thời gian tới.

Sắt, thép nhập khẩu chưa được kiểm tra, đánh giá

Hiện nay, các quốc gia trên thế giới đang tăng cường áp dụng triệt để các hàng rào kỹ thuật và biện pháp phòng vệ thương mại để bảo vệ ngành sản xuất trong nước. Các rào cản kỹ thuật được áp dụng rõ ràng tại các quốc gia như Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Hàn Quốc, Ấn Độ, Úc, Anh…. Cụ thể, các sản phẩm khi xuất khẩu sang các quốc gia này đều yêu cầu có chứng nhận tuân thủ tiêu chuẩn chất lượng của quốc gia nhập khẩu đối với các sản phẩm đáp ứng các tiêu chuẩn của nước nhập khẩu. Mục tiêu của các giấy phép này là ngăn chặn lượng nhập khẩu sản phẩm kém chất lượng, tăng cường khâu kiểm soát với thép nhập khẩu.

Trong khi đó, gần như các sản phẩm thép nhập khẩu vào Việt Nam đều có thuế nhập khẩu bằng 0%. Bên cạnh đó, các biện pháp phòng vệ thương mại như tự vệ phôi thép đã bị dỡ bỏ, các sản phẩm thép khác như tôn mạ, tôn màu, ống thép, thép dự ứng lực… đều không phải chịu bất kỳ biện pháp phòng vệ thương mại nào. Mặt khác, các sản phẩm thép cũng không nằm trong danh mục hàng hóa nhóm 2 theo quyết định của Bộ Công Thương nên không thuộc đối tượng phải kiểm tra chuyên ngành về chất lượng sản phẩm hàng hóa.

Do vậy, việc nhập khẩu các sản phẩm thép vào Việt Nam không có quy trình kiểm tra chất lượng như các quốc gia khác dẫn đến thép nhập khẩu đa dạng về chủng loại, chất lượng, chưa được đánh giá sự phù hợp với tiêu chuẩn Việt Nam, chưa có sự kiểm soát về chất lượng và chủng loại.

Đáng chú ý, vào ngày 1/10, cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) được Liên minh châu Âu (EU) thí điểm áp dụng giai đoạn chuyển tiếp và thực hiện đầy đủ từ năm 2026 nhằm hạn chế phát thải carbon ra môi trường, dựa trên vết carbon sản phẩm trong quá trình sản xuất,… Điều này sẽ tác động mạnh đến thép xuất khẩu của Việt Nam khi phải đối mặt với mức thuế carbon rất cao.

Theo ông Đỗ Nam Bình - Trưởng phòng Khoáng sản luyện kim – Cục Công nghiệp, sản xuất sắt, thép là một trong những ngành chịu tác động lớn từ CBAM. EU là một trong những thị trường xuất khẩu top đầu của ngành thép Việt Nam. Theo nhận định, nếu các doanh nghiệp thép Việt Nam không ứng phó tốt với CBAM, xuất khẩu sang EU sẽ bị ảnh hưởng, nguy cơ hơn là mất thêm nhiều thị trường khác khi những quốc gia này đang xem xét áp dụng các quy định tương tự như CBAM.

Kiến nghị xem xét xây dựng quy trình, thủ tục kiểm tra chất lượng thép nhập khẩu vào Việt Nam.

Đề xuất xem xét xây dựng hàng hàng kỹ thuật đối với thép nhập khẩu

Tại tọa đàm “Định hướng chiến lược phát triển ngành thép Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn 2050”, các doanh nghiệp thép đều đồng tình với kiến nghị xem xét xây dựng quy trình, thủ tục kiểm tra chất lượng thép nhập khẩu vào Việt Nam. Theo đó, thép nhập khẩu cần phải có giấy chứng nhận tuân thủ tiêu chuẩn chất lượng của Việt Nam trước khi nhập khẩu. Đồng thời, tăng cường điều tra áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại phù hợp để hạn chế sản phẩm thép cạnh tranh không lành mạnh, bảo vệ ngành sản xuất thép trong nước.

Ông Phạm Công Thảo, Phó tổng giám đốc Tổng Công ty Thép Việt Nam - Phó Chủ tịch Hiệp hội Thép Việt Nam cho rằng, sản xuất thép của Việt Nam đang đi sau rất nhiều nước, còn thiếu và yếu về công nghệ. Chính vì thế, ngành thép Việt Nam cũng mong muốn Chính phủ có những hỗ trợ và hướng dẫn cụ thể về công nghệ sản xuất cho các doanh nghiệp trong công tác sản xuất xanh.

Còn bà Trần Thu Hiền - Giám đốc Pháp lý, Tập đoàn Hòa Phát kiến nghị, để đảm bảo cho ngành thép trong nước phát triển, cần xây dựng hàng hàng kỹ thuật chặt chẽ hơn với thép nhập khẩu vào Việt Nam.

Trước đó ngày 6/7/2023, Hiệp hội Thép Việt Nam cũng đã gửi đơn kiến nghị đến Thủ tướng Chính phủ, Bộ Công Thương và Bộ Khoa học Công nghệ đề xuất xem xét xây dựng hàng hàng kỹ thuật, thủ tục kiểm tra chất lượng đối với thép nhập khẩu vào Việt Nam.

Các chuyên gia, nhà doanh nghiệp đều nhất trí rằng, cần xây dựng và ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về thép tôn mạ kim loại và sơn phủ màu. Các bộ, ngành tăng cường công tác cảnh báo, dự báo xu thế thị trường hàng hóa. Từ đó góp phần hỗ trợ cho sự phát triển ổn định của sản xuất trong nước, đảm bảo quyền lợi chung của thị trường cũng như người tiêu dùng.

Khánh Ngân

Có thể bạn quan tâm

Việt Nam “chốt” loạt cam kết kinh tế tỷ đô với Trung Quốc: Định hình trục hợp tác mới từ hạ tầng đến công nghệ

Chuyến thăm cấp Nhà nước kéo dài 4 ngày của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tới Trung Quốc (từ 14–17/4/2026) đã khép lại với hàng loạt thỏa thuận kinh tế quan trọng, được đánh giá mang tính bước ngoặt cho quan hệ song phương trong giai đoạn phát triển mới. Từ các dự án hạ tầng quy mô lớn như đường sắt xuyên biên giới, đến hợp tác trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo (AI), năng lượng, thương mại và đào tạo nhân lực, hai bên đang từng bước định hình một cấu trúc liên kết kinh tế sâu rộng hơn, hướng tới mục tiêu dài hạn đến năm 2030 và tầm nhìn 2045.

Phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị quán triệt và triển khai Nghị quyết Hội nghị Trung ương 2 khóa XIV

Sáng 13/4, tại Hà Nội, Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã tổ chức Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm dự và phát biểu chỉ đạo Hội nghị. Tạp chí Cơ khí Việt Nam trân trọng giới thiệu toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm.

Hành động đột phá, biến quyết sách thành kết quả

Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đặt ra yêu cầu Nghị quyết không chỉ đúng mà phải được thực hiện bằng hành động quyết liệt, hiệu quả thực chất, kiên quyết chống hình thức, không để xảy ra “độ trễ” nghị quyết. Trao đổi với Báo Quân đội nhân dân, Tổng Bí thư-Chủ tịch nước Tô Lâm, Bí thư Quân ủy Trung ương nhấn mạnh tinh thần phải đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo, siết chặt kỷ luật thực thi, tăng cường công tác chính trị, tư tưởng, kiểm tra, giám sát và tổ chức hành động đến cùng để đưa Nghị quyết Đại hội XIV nhanh chóng đi vào cuộc sống.

Phát biểu của đồng chí Trịnh Văn Quyết tại Lễ Khai mạc Liên hoan Phát thanh toàn quốc lần thứ XVII

Tối 11/4 tại Quảng trường 30/10, tỉnh Quảng Ninh, Liên hoan Phát thanh toàn quốc lần thứ XVII chính thức khai mạc, khẳng định vai trò của phát thanh trong kỷ nguyên số và lan tỏa thông điệp “Phát thanh vì Việt Nam hùng cường, thịnh vượng”. Tạp chí Cơ khí Việt Nam trân trọng giới thiệu toàn văn bài phát biểu của đồng chí Trịnh Văn Quyết - Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương.

Thủ tướng Lê Minh Hưng chủ trì phiên họp đầu tiên: Quyết liệt tháo gỡ điểm nghẽn, thúc đẩy tăng trưởng hai con số

Sáng 9/4, tại trụ sở Chính phủ, đồng chí Lê Minh Hưng – Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Đảng ủy Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ – đã chủ trì cuộc họp đầu tiên của Thường trực Đảng ủy Chính phủ và Thường trực Chính phủ nhiệm kỳ 2026–2031. Đây không chỉ là phiên làm việc mang tính khởi động cho bộ máy lãnh đạo mới, mà còn đặt nền tảng cho một giai đoạn điều hành với yêu cầu cao về tốc độ, hiệu quả và đổi mới tư duy phát triển.
0904177637
  • Zalo
  • Messenger
  • Back to top