Sự kiện - Vấn đề

Ngành cơ khí đạt mức tăng trưởng khả quan trong năm 2022

21/12/2022 07:12
2561 Lượt xem
TCCKVN Nhờ việc kiểm soát tốt dịch bệnh Covid-19 cùng việc tham gia nhiều Hiệp định thương mại tự do, đã thúc đẩy sản xuất của ngành cơ khí Việt Nam tăng trưởng 16,5% so với năm 2021.

Ngành cơ khí tăng trưởng khả quan trong năm 2022

Sản xuất khởi sắc

Theo Bộ Công Thương, hiện cả nước có khoảng 30.000 doanh nghiệp cơ khí đang hoạt động, doanh thu toàn ngành đạt hơn 1,7 triệu tỷ đồng và tạo việc làm cho trên 1,2 triệu lao động. Ngành cơ khí trong nước đã từng bước làm chủ và nâng cao tỷ lệ nội địa hóa, tạo động lực thúc đẩy các ngành công nghiệp và kinh tế khác phát triển.

Đến nay, linh kiện kim loại sản xuất trong nước hiện đã đáp ứng được 85- 90% nhu cầu cho sản xuất xe máy; khoảng 15- 40% nhu cầu linh kiện cho sản xuất ô tô; khoảng 20% cho sản xuất thiết bị đồng bộ; khoảng 40- 60% cho sản xuất các loại máy nông nghiệp, máy động lực và 40% cho máy xây dựng; cung ứng khoảng 10% nhu cầu linh kiện kim loại cho các ngành công nghiệp công nghệ cao.

Cơ khí chế tạo trong nước cũng đã sản xuất, lắp ráp được hầu hết các chủng loại xe ôtô con, xe tải, xe khách; sản xuất xe máy đã có tỷ lệ nội địa hóa 85- 95%, đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu. Trong đó, phải kể đến một số doanh nghiệp điển hình trong lĩnh vực ô tô như Vinfast, Thành Công, Thaco…

Tuy nhiên, số lượng sản phẩm mang thương hiệu Việt vẫn chưa nhiều; những hạn chế về nguồn cung ứng vật liệu sản xuất, đang là rào cản lớn đối với sự phát triển của ngành cơ khí.

Xuất khẩu tăng mạnh

Bên cạnh những tín hiệu vui từ sản xuất, hoạt động xuất nhập khẩu sản phẩm cơ khí cũng tăng trưởng khả quan. Hiện, máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng là nhóm hàng xuất khẩu lớn thứ 3 của Việt Nam (chỉ sau điện thoại và máy vi tính). Theo thống kê của Tổng cục Hải quan cho thấy, trong giai đoạn 2010-2021, xuất khẩu máy móc thiết bị của Việt Nam liên tục tăng trưởng với tốc độ tăng trung bình đạt 28,3%/năm (mức tăng trưởng mạnh nhất vào năm 2020 đạt 48,58%).

Năm 2022, tổng kim ngạch xuất khẩu máy móc thiết bị của Việt Nam ước đạt 45,8 tỷ USD, tăng 19,45% so với năm 2021. Đây là mức kim ngạch cao nhất trong 10 năm trở lại đây, cao gấp gần 15 lần so với năm 2010.

Trong đó, thị phần xuất khẩu mặt hàng này vẫn chủ yếu thuộc về khối doanh nghiệp FDI. Cụ thể, trị giá xuất khẩu máy móc thiết bị của khối doanh nghiệp FDI ước đạt 42,58 tỷ USD, tăng 19,74% so với cùng kỳ năm 2021; chiếm tỷ trọng gần 93% (cao hơn so với mức tỷ trọng 92,75% của năm 2021).

​Biểu đồ 01: Kim ngạch xuất khẩu máy móc, thiết bị của Việt Nam giai đoạn 2010-2022 (ĐVT: tỷ USD)

Nguồn: Tính toán từ số liệu thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan

Bảng 01: Kim ngạch và tốc độ tăng trưởng xuất khẩu máy móc thiết bị của Việt Nam giai đoạn 2010-2022

Năm

Kim ngạch XK máy móc thiết bị (tỷ USD)

Tăng trưởng (%)

Tỷ trọng XK của DN FDI/cả nước (%)

Cả nước

DN FDI

Cả nước

DN FDI

2010

3,07

2,76

48,90

 

89,90

2011

4,37

3,72

42,37

34,77

85,13

2012

5,54

 

26,80

 

 

2013

6,02

5,39

8,82

 

89,53

2014

7,32

6,56

21,43

21,65

89,62

2015

8,16

7,31

11,54

11,38

89,58

2016

10,11

9,08

23,94

24,29

89,81

2017

12,91

11,55

27,70

27,23

89,47

2018

16,36

14,50

26,70

25,48

88,63

2019

18,30

15,17

11,90

4,66

82,90

2020

27,19

23,73

48,58

56,42

87,27

2021

38,34

35,56

41,01

49,83

92,75

Ước N2022*

45,80

42,58

19,45

19,74

92,97

Nguồn: Tổng hợp từ số liệu thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan

Về thị trường xuất khẩu, Việt Nam xuất khẩu máy móc thiết bị chủ yếu là sang thị trường Hoa Kỳ với kim ngạch năm 2022 ước đạt hơn 20 tỷ USD, tăng 12,5% so với năm 2021, chiếm tỷ trọng tới hơn 44% tổng kim ngạch xuất khẩu máy móc thiết bị của cả nước. Tiếp đến là các thị trường: EU chiếm 12,37%; Trung Quốc chiếm 7,95%; ASEAN chiếm tỷ trọng 7,11%; Hàn Quốc chiếm 6,09%; Nhật Bản chiếm 6,03%...

Nhìn chung, trị giá xuất khẩu máy móc thiết bị sang hầu hết các thị trường lớn đều tăng mạnh so với năm 2021. Trong khi đó, xuất khẩu sang Nga giảm 41,08% và Ukraina giảm mạnh 69,3% do ảnh hưởng của xung đột; ngoài ra xuất khẩu sang các thị trường New Zealand, Bangladesh, Thụy Sỹ, Pakistan, Na Uy cũng giảm.

Xuất siêu máy móc, thiết bị

Trong giai đoạn 2010-2021, nhập khẩu máy móc thiết bị, dụng cụ, phụ tùng vào Việt Nam tăng trưởng ở mức trung bình 11,74% (năm 2021 tăng mạnh nhất 24,28%). Năm 2022, Việt Nam nhập khẩu máy móc thiết bị ước đạt 45,4 tỷ USD, giảm nhẹ 1,94%. Đây là năm thứ hai kim ngạch nhập khẩu mặt hàng này giảm, bên cạnh năm 2018 (giảm 3%). Trong đó, nhập khẩu máy móc thiết bị của khối doanh nghiệp FDI chiếm tỷ trọng gần 70% đạt 31,7 tỷ USD, tăng 2,6% so với năm 2021.

Về cán cân thương mại, trong giai đoạn 2010-2020, Việt Nam liên tục nhập siêu máy móc thiết bị với trị giá hơn 10 tỷ USD (năm 2017 nhập siêu nhiều nhất 20,97 triệu USD). Năm 2021, nhập siêu máy móc thiết bị giảm xuống còn 7,96 tỷ USD. Theo ước tính, năm 2022, lần đầu tiên Việt Nam xuất siêu máy móc thiết bị 402,4 triệu USD.

Biểu đồ 02: Kim ngạch máy móc, thiết bị nhập khẩu của Việt Nam giai đoạn 2010-2022 (ĐVT: tỷ USD)

Nguồn: Tính toán từ số liệu thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan

Trung Quốc là thị trường cung cấp máy móc thiết bị lớn nhất cho Việt Nam với kim ngạch năm 2022 ước đạt 24,6 tỷ USD, giảm nhẹ 1,3% so với năm 2021; chiếm tỷ trọng hơn 54% tổng kim ngạch nhập khẩu máy móc thiết bị dụng cụ phụ tùng của cả nước. Mặc dù có sự suy giảm nhưng nhìn chung Việt Nam vẫn còn phụ thuộc nhiều vào máy móc thiết bị nhập khẩu từ Trung Quốc.

Tiếp đến là các thị trường: Hàn Quốc chiếm tỷ trọng 13,92%; Nhật Bản chiếm 9,38%; ASEAN chiếm 6,47%; EU-27 chiếm 6,05%; Đài Loan chiếm 3,09%; Hoa Kỳ chiếm 2,06%; Ấn Độ chiếm 1,19%…

Trong năm qua, nhập khẩu máy móc thiết bị từ nhiều thị trường giảm như: Trung Quốc, Nhật Bản, EU, Hoa Kỳ, Hồng Kông, Anh, Thụy Sỹ, Canada, Thổ Nhĩ Kỳ, Australia, New Zealand, Nga, Ukraine, Nam Phi. Ngược lại, nhập khẩu từ một số thị trường vẫn tăng khá gồm: Hàn Quốc, ASEAN, Đài Loan, Ấn Độ, Mexico, Na Uy, Israel, Brazil…

Trong khi đó, nhập khẩu máy móc thiết bị trong năm giảm gần 2% so với năm 2021. Điều đó cho thấy, nhờ việc chú trọng vào đầu tư phát triển, nâng cao năng lực sản xuất ngành cơ khí trong nước thời gian qua, Việt Nam đang giảm dần sự phụ thuộc vào máy móc nhập khẩu từ nước ngoài.

Dù đã đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ song phải nhìn nhận thực tế, năng lực và trình độ ngành cơ khí chưa theo kịp với thế giới. Vẫn còn nhiều doanh nghiệp chưa chú trọng đầu tư đổi mới công nghệ. Bên cạnh đó, nhân lực khoa học và công nghệ trình độ cao trong công nghiệp cơ khí còn thiếu hụt.

Để tiếp tục thúc đẩy ngành công nghiệp cơ khí phát triển trong thời gian tới, Bộ Công Thương xác định triển khai có hiệu quả các nhiệm vụ khoa học và công nghệ, ưu tiên triển khai các nhiệm vụ theo chuỗi giá trị, tập trung nghiên cứu, ứng dụng và làm chủ các công nghệ cao, công nghệ ưu tiên phát triển, công nghệ khuyến khích chuyển giao thuộc ngành cơ khí như công nghệ nhiệt luyện; công nghệ chế tạo khuôn mẫu chính xác cao, máy công cụ, máy nông nghiệp, phụ tùng, động cơ ô tô và phụ tùng cơ khí, giao thông đường sắt, thép chế tạo, cơ khí chính xác và tự động hóa; công nghệ chế biến và bảo quản. Xây dựng và triển khai thực hiện lộ trình đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp cơ khí phù hợp với điều kiện thực tiễn, nhu cầu và xu thế phát triển của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4. Tăng cường kết nối giữa nhà quản lý, nhà khoa học và doanh nghiệp trong nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao công nghệ. Hỗ trợ các doanh nghiệp, tổ chức khoa học đẩy mạnh nghiên cứu, đầu tư tiềm lực khoa học và công nghệ để nghiên cứu tiếp nhận chuyển giao công nghệ tiến tới làm chủ việc thiết kế, chế tạo các dây chuyền thiết bị toàn bộ cho các ngành kinh tế. Đặc biệt, rà soát, hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia cho các sản phẩm cơ khí, nâng cao tỷ lệ hài hòa với các tiêu chuẩn quốc tế. Bộ Công Thương tiếp tục tăng cường và nâng cao hiệu quả hoạt động của hai Trung tâm kỹ thuật hỗ trợ phát triển công nghiệp miền Bắc và miền Nam; tiếp tục phát triển mạnh công nghiệp hạ nguồn để đảm bảo cho công nghiệp hỗ trợ có điều kiện phát triển.​

Đào Ngọc Mi

Có thể bạn quan tâm

ASEAN trước bước ngoặt công nghệ: Từ trung tâm sản xuất đến trung tâm đổi mới sáng tạo toàn cầu

Sự phát triển bùng nổ của trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, kinh tế số và chuyển đổi xanh đang làm thay đổi sâu sắc cấu trúc kinh tế toàn cầu, đồng thời tái định nghĩa những yếu tố cốt lõi tạo nên sức mạnh cạnh tranh của mỗi quốc gia và khu vực. Trong bối cảnh đó, ASEAN không thể chỉ là bên tiếp nhận các xu hướng công nghệ mới mà cần chủ động tham gia định hình những chuẩn mực phát triển của thời đại.

Đề xuất đầu tư tuyến đường sắt TP.HCM – Cần Thơ hơn 171.000 tỷ đồng: Bước đột phá hạ tầng và công nghệ cho Đồng bằng sông Cửu Long

Ban Quản lý dự án Mỹ Thuận vừa báo cáo Bộ Xây dựng kết quả nghiên cứu tiền khả thi Dự án đầu tư tuyến đường sắt TP.HCM – Cần Thơ với tổng mức đầu tư sơ bộ hơn 171.000 tỷ đồng. Đây được xem là một trong những dự án hạ tầng giao thông quan trọng nhất khu vực phía Nam trong giai đoạn tới, không chỉ góp phần hoàn thiện mạng lưới giao thông quốc gia mà còn mở ra cơ hội phát triển mới cho Đồng bằng sông Cửu Long thông qua việc ứng dụng các công nghệ đường sắt hiện đại.

Vì một nền văn minh sinh thái, một Việt Nam xanh và một đại dương hòa bình, bền vững

Tạp chí Cơ khí Việt Nam trân trọng giới thiệu bài viết của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm với tiêu đề: "Vì một nền văn minh sinh thái, một Việt Nam xanh và một đại dương hòa bình, bền vững".

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm giao 6 nhiệm vụ trọng tâm cho Công đoàn Việt Nam

Đại hội XIV Công đoàn Việt Nam đánh dấu một giai đoạn phát triển mới của tổ chức đại diện cho giai cấp công nhân và người lao động cả nước. Phát biểu chỉ đạo tại Đại hội, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nhấn mạnh vai trò đặc biệt quan trọng của Công đoàn Việt Nam trong tiến trình phát triển đất nước, đồng thời giao 6 nhiệm vụ trọng tâm nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức công đoàn trong bối cảnh mới.

Công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục là động lực tăng trưởng của nền kinh tế

Bức tranh sản xuất công nghiệp Việt Nam trong 5 tháng đầu năm 2026 tiếp tục ghi nhận nhiều tín hiệu tích cực khi chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) tăng 9,1% so với cùng kỳ năm trước. Đây là mức tăng cao nhất của 5 tháng đầu năm trong vòng 4 năm trở lại đây, phản ánh đà phục hồi và mở rộng sản xuất mạnh mẽ của cộng đồng doanh nghiệp, đặc biệt là khu vực công nghiệp chế biến, chế tạo – động lực tăng trưởng chủ lực của nền kinh tế.
0904177637
  • Zalo
  • Messenger
  • Back to top