Sự kiện - Vấn đề

Phát triển công nghiệp hỗ trợ: Trông người, ngẫm ta

13/01/2015 00:01
651 Lượt xem
Giáo sư Johng - IHL Lee -Giám đốc điều hành Trung tâm quốc tế về chính sách đổi mới và phát triển khu vực ĐH SUNY (Hàn Quốc) - cho biết, nền kinh tế Hàn Quốc khởi đầu chậm hơn Nhật Bản 50 năm, chậm hơn Mỹ 100 năm.
Đoàn công tác của Bộ Công Thương tham quan một Viện nghiên cứu công nghiệp hỗ trợ tại Hàn Quốc

Hàn Quốc: Từ chim bói cá... đến chúa sơn lâm       

Giáo sư Johng - IHL Lee -Giám đốc điều hành Trung tâm quốc tế về chính sách đổi mới và phát triển khu vực ĐH SUNY (Hàn Quốc) - cho biết, nền kinh tế Hàn Quốc khởi đầu chậm hơn Nhật Bản 50 năm, chậm hơn Mỹ 100 năm. Trong thập kỷ 90 của thế kỷ XX, Hàn Quốc sản xuất linh kiện bán dẫn chủ yếu gia công cho Nhật. Một nhà kinh tế người Nhật đã nhận xét: nền kinh tế Hàn Quốc chỉ như một chú chim bói cá, thiếu sự ổn định vì quá lệ thuộc vào nước ngoài. Thế nhưng, chỉ sau hơn 10 năm xây dựng chiến lược phát triển kinh tế, từ con số 0 ban đầu, nay Hàn Quốc đã đứng thứ 7 thế giới về xuất khẩu, đứng thứ 5 về CNHT và đang là một trong những cường quốc hàng đầu thế giới về CN điện tử.         

Việt Nam cũng bắt đầu tiếp xúc với CNHT từ năm 2003, khi Công ty ôtô Daewoo đến đặt hàng sản xuất ốc vít. Tuy nhiên, sự vụ không thành, nguyên nhân không phải là DN Việt Nam không làm được mà vì, nếu sản xuất theo yêu cầu chất lượng, giá cả của Daewoo thì phải đầu tư lại thiết bị công nghệ, giá thành vì thế sẽ cao hơn, trong khi DN không được nhà nước hỗ trợ.         

Một cán bộ của Bộ Công Thương cũng cho biết, Samsung đầu tư vào Việt Nam từ năm 1995 với tổng số vốn đầu tư đăng ký trong lĩnh vực điện tử và CNHT gần 8 tỷ USD. Theo kế hoạch, mỗi năm Samsung sản xuất 250 triệu điện thoại tại Việt Nam, số ốc vít đặt hàng lên tới khoảng 5 tỷ chiếc. Trên thế giới có 93 DN hỗ trợ cung cấp vật liệu phụ tùng cho Samsung, trong đó Việt Nam có 7 DN, nhưng thực chất cũng chỉ cung cấp các sản phẩm in ấn, bao bì. Nguyên nhân chủ yếu do Việt Nam chưa có chiến lược phát triển CNht tầm quốc gia để tạo ra sản phẩm số lượng lớn.  Hiện Samsung mua ốc vít của một DN FDI Hàn Quốc với giá 50-60 đồng/chiếc. Với mức giá như vậy, không DN Việt Nam nào có thể cạnh tranh nổi. Bởi lẽ, dây chuyền sản xuất của Hàn Quốc là tự động hoàn toàn, mọi quy trình sản xuất đều được tối ưu hóa. Đây lại chính là điểm yếu của các DN Việt Nam. Rõ ràng, nếu DN không nâng cao được năng suất, hạ giá thành thì khó có thể len chân vào chuỗi giá trị toàn cầu. Nếu không thể phát triển được CNHT trong nước, Việt Nam cũng sẽ chỉ là chú chim bói cá, phụ thuộc vào nước ngoài, sức cạnh tranh bị suy giảm, khó phát triển kinh tế bền vững.

Theo các chuyên gia, để thúc đẩy CNHTcần phải có chính sách ưu đãi cho vay vốn tùy từng lĩnh vực ưu tiên. Trong điều kiện ngân sách khó khăn, Việt Nam cần tập trung vào một vài sản phẩm CNHT cụ thể để tạo ra những doanh nghiệp có tiềm lực, công suất lớn. Các địa phương cũng nên thành lập các loại quỹ phát triển CNHT thay vì chờ trung ương

Việt Nam: cần tìm hướng đi riêng         

Vì sao các nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam ngày càng nhiều mà vẫn không có DN trong nước nào đáp ứng được các yêu cầu về sản phẩm CNHT. Theo các chuyên gia, nguyên nhân là chính sách phát triển CNHT chưa có đột phá, năng lực sản xuất, kinh nghiệm quản lý của DN còn yếu nên chưa tham gia được chuỗi sản xuất toàn cầu.        

Theo GS Lee, muốn phát triển CNHT, trước hết phải chú ý nguồn nhân lực, từ chuyên gia cao cấp đến người thợ đều phải đào tạo liên tục. Phải tạo cơ sở hạ tầng, có nền tảng chính sách thu hút đầu tư nước ngoài, biết hướng tới thị trường trong tương lai, trong đó, góc nhìn của lãnh đạo có vai trò quyết định. Tất nhiên, không phải cứ quan tâm là thành công mà phải biết kết hợp DN nhỏ và DN lớn, kết hợp các ý tưởng... Ở Hàn Quốc có hẳn 1 luật riêng về phát triển CNHT, có tới 6 viện nghiên cứu tham gia xây dựng quy hoạch CNHT. Chính phủ Hàn Quốc hỗ trợ DN từ khâu đào tạo nhân lực đến thương mại hóa các thành phẩm. Để đảm bảo uy tín, các sản phẩm muốn bán phải có chứng chỉ chất lượng do trung tâm đo lường quốc gia cấp. Theo GS Lee, điều quan trọng là không nên nóng vội. Bởi vì, để làm nhà thầu cung cấp đinh vít cho Toyota, DN Nhật mất khoảng 5 năm đầu tư, DN Hàn Quốc phải 3 năm. “Vì vậy, Việt Nam không thể một sớm một chiều. Vấn đề là phải có cách nhìn chiến lược ngay từ bây giờ. Trong điều kiện thực tế hiện nay, DN Việt Nam không nên theo đuổi các tập đoàn lớn mà nên bắt tay với các DN nhỏ và vừa” - GS Lee khuyến cáo         

Theo số liệu điều tra của Tổ chức Xúc tiến mậu dịch Nhật Bản, số linh kiện, nguyên phụ liệu nội địa cung ứng cho sản phẩm CN của Việt Nam chỉ chiếm 27,8% giá trị sản lượng CN, trong khi ở Trung Quốc, Thái Lan, tỷ lệ nội địa hóa chiếm 50 - 60%. Nhiều chuyên gia cho rằng, sở dĩ các nước tiên tiến có ngành CNHT phát triển là vì nhà nước đầu tư rất lớn với mức đầu tư trở lại 10% số thu ngân sách từ những ngành này để thúc đẩy phát triển. Trong khi ở Việt Nam, việc phát triển CNHT chủ yếu trên tinh thần “phát huy nội lực” của các DN và các nhà nghiên cứu. Năm 2011, Việt Nam chính thức ban hành chính sách phát triển CNHT, tuy nhiên, sau 3 năm triển khai, số DN được hưởng ưu đãi chưa nhiều. Các DN đang kỳ vọng thời gian tới, khi chính sách được điều chỉnh, nền CN hỗ trợ của Việt Nam sẽ thực sự khởi sắc.

DK (nguồn: theo Ngọc Loan, baocongthuong.com.vn)

Từ khóa:

Có thể bạn quan tâm

Phát triển cơ khí Việt Nam giai đoạn 2026 đến 2045 gắn với nâng cao giá trị tăng thêm

Giai đoạn 2026–2045, cơ khí Việt Nam cần đồng thời mở rộng sản xuất và nâng giá trị tăng thêm thông qua năng lực thiết kế, chế tạo, tích hợp hệ thống. Bằng phân tích cơ cấu ngành, kịch bản tăng trưởng và độ nhạy, bài báo làm rõ khoảng cách năng lực và yêu cầu chuyển đổi chất lượng tăng trưởng. Trên cơ sở đó, đề xuất tổ chức hỗ trợ theo dự án và đơn hàng; gắn chuyển giao công nghệ với quyền sử dụng, sửa đổi thiết kế; phát triển nhà cung ứng theo yêu cầu bên mua; phân bổ nguồn lực và đánh giá theo năng lực thực tế. Kết quả tính toán minh họa vai trò của việc nâng tỷ trọng giá trị tăng thêm, làm cơ sở lựa chọn chính sách phát triển ngành.

Chiến lược phát triển ngành cơ khí Việt Nam: Những kết quả đạt được và yêu cầu chuyển đổi chiều sâu

Sau hơn bảy năm triển khai Quyết định số 319/QĐ-TTg ngày 15/3/2018 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển ngành cơ khí Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2035, ngành cơ khí đã có những bước phát triển đáng ghi nhận về quy mô sản xuất, chủng loại sản phẩm và năng lực chế tạo. Tuy nhiên, để thực sự trở thành ngành công nghiệp nền tảng, có khả năng tự chủ công nghệ và tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu, cơ khí Việt Nam vẫn cần vượt qua những điểm nghẽn mang tính cơ cấu.

Xây dựng Chiến lược phát triển ngành Cơ khí Việt Nam đến năm 2035: Từ mở rộng quy mô đến làm chủ công nghệ

Ngành Cơ khí Việt Nam đang đứng trước cơ hội lớn từ làn sóng đầu tư vào năng lượng, đường sắt, khai khoáng và công nghiệp chế biến, chế tạo. Tuy nhiên, để biến tiềm năng thị trường thành năng lực sản xuất thực chất, chiến lược phát triển giai đoạn 2026–2045 cần tập trung vào làm chủ công nghệ, nâng cao năng lực doanh nghiệp nội địa và tạo cơ chế để doanh nghiệp Việt tham gia sâu hơn vào các dự án công nghiệp trọng điểm.

Hội nghị Khoa học và Công nghệ Cơ khí - Động lực lần thứ XIX: Thúc đẩy nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và kết nối thực tiễn

Ngày 18/10/2026, tại Trường Đại học Thủy lợi (Hà Nội), Hội nghị Khoa học và Công nghệ Cơ khí - Động lực lần thứ XIX năm 2026 đã diễn ra, quy tụ đông đảo các nhà khoa học, chuyên gia, giảng viên, đại diện cơ sở đào tạo, viện nghiên cứu và doanh nghiệp. Hội nghị tiếp tục khẳng định vai trò là diễn đàn học thuật quan trọng, góp phần thúc đẩy nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo và tăng cường kết nối giữa đào tạo, nghiên cứu với thực tiễn sản xuất.

Thương hiệu quốc gia Việt Nam: Từ khẳng định chất lượng đến nâng tầm vị thế

Tối 16/10/2026, tại Hà Nội, Hội đồng Thương hiệu quốc gia Việt Nam và Bộ Công Thương tổ chức Lễ Công bố sản phẩm đạt Thương hiệu quốc gia Việt Nam lần thứ 10 năm 2026, với chủ đề “Dòng chảy Thương hiệu Việt”.
0982254465
  • Zalo
  • Messenger
  • Back to top