Ngày 23/10/2026, tại Hà Nội, Viện Nghiên cứu Cơ khí tổ chức hội thảo “Xây dựng Chiến lược phát triển ngành Cơ khí Việt Nam đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2045”. Tham dự Hội thảo có ông Trần Việt Hòa, Cục trưởng Cục Công nghiệp (Bộ Công Thương); TS. Phan Đăng Phong, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Cơ khí (NARIME); PGS. TS Nguyễn Chỉ Sáng, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Cơ khí Việt Nam (VAMI) với sự tham gia của đại diện các cơ quan quản lý, viện nghiên cứu, hiệp hội, cơ sở đào tạo và doanh nghiệp và các cơ quan thông tấn báo chí.
TS. Phan Đăng Phong, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Cơ khí phát biểu khai mạc Hội thảo.
Phát biểu khai mạc, TS. Phan Đăng Phong, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Cơ khí, nhấn mạnh cơ khí là ngành công nghiệp nền tảng, cung cấp máy móc, thiết bị cho nhiều lĩnh vực kinh tế, đồng thời có vai trò quan trọng đối với năng suất, sức cạnh tranh và khả năng tự chủ công nghệ của quốc gia.
Thời gian qua, doanh nghiệp cơ khí Việt Nam đã đạt được những bước tiến đáng ghi nhận, từng bước làm chủ thiết kế, chế tạo, lắp đặt và dịch vụ kỹ thuật cho nhiều hệ thống thiết bị phục vụ thủy điện, nhiệt điện, xi măng, khai thác và chế biến khoáng sản, dầu khí, hóa chất, nông nghiệp và giao thông. Một số doanh nghiệp cũng đã tham gia sâu hơn vào các lĩnh vực ô tô, tự động hóa sản xuất và chuỗi cung ứng trong nước, quốc tế.
Tuy nhiên, năng lực của ngành vẫn chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu phát triển. Nhiều doanh nghiệp chủ yếu đảm nhận gia công, chế tạo và lắp đặt theo thiết kế có sẵn; khả năng thiết kế tổng thể, tích hợp hệ thống và cung cấp trọn bộ thiết bị còn hạn chế. Mối liên kết giữa nghiên cứu với sản xuất chưa chặt chẽ, khiến nhiều kết quả nghiên cứu chưa chuyển hóa thành sản phẩm thương mại.
Trong khi đó, nhu cầu đầu tư cho các ngành công nghiệp mở ra thị trường cơ khí rất lớn cho Việt Nam, dự báo đạt khoảng 825 tỷ USD vào năm 2045. Đây là cơ hội để hình thành và phát triển những năng lực công nghiệp hoàn toàn mới trong nước.
Bài toán đặt ra là phải khai thác thị trường này hiệu quả để doanh nghiệp nội địa nâng cao năng lực thiết kế, công nghệ và cung ứng sau mỗi dự án. Do đó, Chiến lược cần định hình rõ: Sản phẩm mũi nhọn cần làm chủ, lực lượng thực hiện, nguồn lực đầu tư và cơ chế gắn kết thị trường với năng lực nội sinh.

Ông Trần Việt Hoà (bên trái ảnh), Cục trưởng Cục Công nghiệp, Bộ Công Thương đồng chủ trì Hội thảo.
Nhìn lại chiến lược cũ, xác định hướng đi mới
Trình bày báo cáo đánh giá kết quả thực hiện Quyết định số 319/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chiến lược phát triển ngành Cơ khí Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2035, TS. Vũ Văn Khoa, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Cơ khí, cho biết sau hơn 7 năm triển khai, ngành đã mở rộng quy mô sản xuất, cải thiện năng lực chế tạo máy móc, thiết bị và phụ tùng. Một số doanh nghiệp trong nước đã từng bước tham gia chuỗi cung ứng, đảm nhận các công việc kỹ thuật có yêu cầu ngày càng cao.
Dù vậy, những kết quả đạt được vẫn chưa tương xứng với tiềm năng và nhu cầu thị trường. Phần lớn doanh nghiệp cơ khí có quy mô nhỏ và vừa, nguồn lực tài chính hạn chế, thiết bị và công nghệ chưa đồng bộ, năng lực nghiên cứu và phát triển còn yếu. Số doanh nghiệp có khả năng tự chủ thiết kế tổng thể, làm chủ công nghệ cốt lõi, tích hợp hệ thống và đảm nhận vai trò tổng thầu vẫn còn ít.
Một hạn chế khác là các mục tiêu của chiến lược trước đây chưa được cụ thể hóa đầy đủ bằng hệ thống chỉ tiêu, phương pháp tính và nguồn dữ liệu thống nhất. Nhiệm vụ, giải pháp chưa gắn chặt với chương trình, dự án, nguồn lực và trách nhiệm đầu ra. Các chính sách về đầu tư, tín dụng, thuế, khoa học và công nghệ, phát triển thị trường, đấu thầu còn phân tán, chưa tạo động lực đủ mạnh để doanh nghiệp đầu tư dài hạn vào những sản phẩm có yêu cầu vốn lớn và rủi ro công nghệ cao.
Những vấn đề này đặt ra yêu cầu chiến lược mới không thể chỉ dừng ở việc xác định định hướng phát triển chung, mà phải chỉ rõ cách thức tổ chức thực hiện, nguồn lực và cơ chế kiểm tra, đánh giá kết quả.
TS. Vũ Văn Khoa, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Cơ khí báo cáo tại Hội thảo.
Báo cáo “Xây dựng Chiến lược phát triển ngành cơ khí Việt Nam đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2045” của TS. Phan Đăng Phong cho biết, tổng giá trị sản xuất ngành Cơ khí tăng từ 1.626,3 nghìn tỷ đồng năm 2018 lên 3.225,5 nghìn tỷ đồng năm 2025, tương đương gần 2 lần, với tốc độ tăng trưởng bình quân khoảng 10,3%/năm. Tuy nhiên, khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) vẫn giữ vai trò chi phối, với tỷ trọng tăng từ 55% năm 2018 lên 61,6% năm 2025.
Điều đó cho thấy quy mô sản xuất tăng nhanh chưa đồng nghĩa với việc doanh nghiệp Việt Nam đã làm chủ những khâu tạo ra giá trị cao nhất. Bài toán của giai đoạn tới là chuyển từ tăng trưởng theo chiều rộng sang nâng cao chất lượng phát triển, trong đó năng lực thiết kế, chế tạo, tích hợp hệ thống và giá trị gia tăng do doanh nghiệp trong nước tạo ra cần trở thành những thước đo quan trọng.
Thị trường lớn cần đi cùng năng lực nội địa
Giai đoạn 2026–2045 được dự báo mở ra dư địa phát triển đáng kể cho ngành Cơ khí, nhờ hàng loạt chương trình, dự án đầu tư trong lĩnh vực năng lượng, đường sắt đô thị, đường sắt liên vùng, đường sắt tốc độ cao, khai thác và chế biến khoáng sản, công nghiệp quốc phòng, công nghiệp chế biến, chế tạo và hạ tầng kỹ thuật.
Báo cáo của Viện Nghiên cứu Cơ khí đưa ra ba kịch bản tăng trưởng giá trị sản xuất ngành Cơ khí, lần lượt khoảng 6,5%, 10% và 12% mỗi năm. Theo định hướng xây dựng chiến lược, những lĩnh vực như năng lượng, dầu khí, thiết bị điện, ô tô, đường sắt, khai khoáng và tự động hóa cần được quan tâm do có dung lượng thị trường lớn và khả năng tạo tác động lan tỏa tới nhiều ngành công nghiệp khác.
Tuy nhiên, thị trường lớn chỉ thực sự trở thành động lực phát triển khi doanh nghiệp trong nước có đủ điều kiện tham gia. Nếu các dự án quy mô lớn tiếp tục phụ thuộc chủ yếu vào thiết bị nhập khẩu, cơ hội mở rộng sản xuất sẽ khó chuyển hóa thành năng lực công nghệ và giá trị gia tăng nội địa tương xứng.
Vì vậy, dự thảo chiến lược đặt mục tiêu đến năm 2030, tỷ lệ nội địa hóa ngành Cơ khí đạt khoảng 35%, tỷ lệ làm chủ thiết kế và chế tạo đạt khoảng 45%, tỷ lệ giá trị gia tăng đạt khoảng 25% giá trị sản xuất toàn ngành.
Đến năm 2035, các tỷ lệ này dự kiến lần lượt đạt khoảng 40%, 55% và 30%. Ngành hướng tới hình thành khoảng 500 doanh nghiệp cơ khí nòng cốt, trong đó có 3–5 doanh nghiệp đủ khả năng tham gia với vai trò tổng thầu hoặc nhà tích hợp hệ thống trong các dự án công nghiệp trong nước.
Tầm nhìn đến năm 2045, tỷ lệ nội địa hóa dự kiến đạt khoảng 60%, tỷ lệ làm chủ thiết kế và chế tạo khoảng 75%, giá trị gia tăng chiếm khoảng 45% giá trị sản xuất toàn ngành. Mục tiêu dài hạn là hình thành khoảng 1.200 doanh nghiệp cơ khí nòng cốt, trong đó có 5–7 tập đoàn, doanh nghiệp quy mô lớn đạt trình độ khu vực.
Để hiện thực hóa các mục tiêu này, chiến lược xác định nhiều nhóm nhiệm vụ, từ hoàn thiện thể chế, phát triển thị trường, nâng cao năng lực thiết kế và chế tạo đến thúc đẩy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, phát triển công nghiệp hỗ trợ và nguồn nhân lực. Việc nâng cấp hệ thống tiêu chuẩn, thử nghiệm, kiểm định, huy động nguồn lực tài chính và tăng cường hợp tác quốc tế cũng được xem là những điều kiện quan trọng.
Tạo cơ hội thực chất cho doanh nghiệp Việt Nam
Từ góc độ doanh nghiệp, PGS.TS. Nguyễn Chỉ Sáng, Chủ tịch VAMI, cơ bản thống nhất với dự thảo chiến lược, đồng thời đánh giá cao cách tiếp cận dựa trên việc tổng kết Quyết định số 319/QĐ-TTg và phân tích khoảng cách giữa tăng trưởng quy mô sản xuất với năng lực làm chủ công nghệ, thiết kế và giá trị gia tăng.
PGS,TS. Nguyễn Chỉ Sáng, Chủ tịch VAMI đánh giá cao cách tiếp cận Dự thảo Chiến lược.
Theo VAMI, chiến lược cần đưa ra những cơ chế đủ cụ thể để doanh nghiệp Việt Nam tham gia thực chất vào các dự án đầu tư công quy mô lớn, đặc biệt trong các lĩnh vực đường sắt tốc độ cao, đường sắt đô thị, bô-xít – alumin – nhôm và điện gió.
Một trong những đề xuất đáng chú ý là cần xem xét năng lực cung ứng trong nước ngay từ giai đoạn chuẩn bị đầu tư và xây dựng yêu cầu kỹ thuật. Việc công bố sớm nhu cầu thiết bị, nghiên cứu phân chia gói thầu hợp lý, chuẩn hóa các cụm thiết bị có thể mua sắm chung và tạo điều kiện cho liên danh, hợp tác chế tạo, chuyển giao công nghệ sẽ giúp doanh nghiệp có thêm thời gian chuẩn bị năng lực.
Hiệp hội cũng đề nghị xây dựng cơ chế phát triển thị trường trong nước có mục tiêu, điều kiện và thời hạn phù hợp đối với những nhóm sản phẩm mà doanh nghiệp Việt Nam đã có hoặc có khả năng hình thành năng lực cạnh tranh. Đồng thời, cần tăng cường phối hợp giữa cơ quan quản lý và các hiệp hội ngành hàng, bổ sung cơ chế theo dõi biến động nhập khẩu, giá bán và thị phần để kịp thời nhận diện những tác động tới sản xuất trong nước.
Đại diện Tổng công ty Lắp máy Việt Nam – CTCP (LILAMA), ông Nguyễn Văn Hùng, Tổng Giám đốc, cho rằng doanh nghiệp cơ khí Việt Nam đã có nhiều tiến bộ, đủ khả năng đảm nhận nhiều công việc kỹ thuật phức tạp tại các công trình công nghiệp và năng lượng trọng điểm quốc gia. Tuy nhiên, mục tiêu phát triển trong thời gian tới không nên chỉ dừng ở gia tăng sản lượng hay tỷ lệ nội địa hóa, mà cần chú trọng hơn tới năng lực làm chủ công nghệ, thiết kế, chế tạo và tổ chức thực hiện tổng thể các dự án công nghiệp lớn.

Ông Nguyễn Văn Hùng, Tổng Giám đốc LILAMA phát biểu tại Hội thảo.
Từ thực tiễn hoạt động, LILAMA đề xuất cần có chiến lược phát triển thị trường dài hạn, tạo cơ hội thực chất cho doanh nghiệp cơ khí trong nước tham gia các dự án trọng điểm; đồng thời xây dựng cơ chế hỗ trợ phù hợp để nâng cao năng lực cạnh tranh, đặc biệt là năng lực tài chính. Phát triển nguồn nhân lực kỹ thuật chất lượng cao và thúc đẩy chuyển giao công nghệ cũng cần được xác định là những nhiệm vụ trọng tâm.
Ở khía cạnh đào tạo, PGS.TS. Trương Hoành Sơn, Hiệu trưởng Trường Cơ khí, Đại học Bách khoa Hà Nội, đề xuất bốn định hướng phát triển nhân lực gồm tái cấu trúc chương trình đào tạo theo hướng liên ngành và số hóa; chuyển mạnh sang đào tạo dựa trên dự án; thúc đẩy mô hình đồng đào tạo giữa nhà trường và doanh nghiệp; quốc tế hóa năng lực nguồn nhân lực gắn với tư duy phát triển bền vững.

PGS.TS. Trương Hoành Sơn, Hiệu trưởng Trường Cơ khí, Đại học Bách khoa Hà Nội
Những đề xuất này cho thấy phát triển ngành cơ khí không chỉ là câu chuyện đầu tư máy móc, mở rộng nhà xưởng hay gia tăng số lượng doanh nghiệp. Đằng sau năng lực chế tạo là cả một hệ sinh thái gồm nhân lực, nghiên cứu, công nghiệp hỗ trợ, tiêu chuẩn kỹ thuật, nguồn vốn và thị trường đủ ổn định để doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư chiều sâu.
Tại hội thảo, ông Trần Việt Hòa, Cục trưởng Cục Công nghiệp (Bộ Công Thương), nhấn mạnh phát triển ngành cơ khí là nhiệm vụ quan trọng nhằm nâng cao năng lực tự chủ của nền công nghiệp và đáp ứng nhu cầu máy móc, thiết bị của nền kinh tế. Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, việc xây dựng chiến lược đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2045 có ý nghĩa thiết thực đối với định hướng đầu tư, phát triển công nghệ và huy động nguồn lực.
Toàn cảnh Hội thảo.
Có thể thấy, yêu cầu lớn nhất đặt ra đối với chiến lược phát triển ngành cơ khí Việt Nam giai đoạn 2026–2045 là kết nối được ba yếu tố: nhu cầu thị trường, năng lực doanh nghiệp và cơ chế chính sách. Thị trường cần được chuyển hóa thành đơn hàng và cơ hội sản xuất; các dự án đầu tư cần gắn với quá trình nâng cao năng lực thiết kế, chế tạo, tích hợp hệ thống; còn chính sách phải tạo điều kiện để doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn, từng bước làm chủ công nghệ và tăng giá trị do mình tạo ra.
Nếu giải quyết được những vấn đề này, ngành cơ khí không chỉ đáp ứng tốt hơn nhu cầu thiết bị trong nước, giảm phụ thuộc vào nhập khẩu, mà còn có cơ hội hình thành những doanh nghiệp nòng cốt đủ sức tham gia các chuỗi cung ứng khu vực và quốc tế. Đây cũng là nền tảng để cơ khí thực sự trở thành một trong những trụ cột của nền công nghiệp quốc gia, đóng góp vào mục tiêu phát triển nhanh, bền vững và nâng cao tính tự chủ của nền kinh tế.



