Sự kiện - Vấn đề

Cần cơ chế, chính sách đặc thù để phát triển sản phẩm cơ khí có dung lượng thị trường lớn giai đoạn 2026-2045

04/05/2026 12:05
193 Lượt xem
TCCKVN Theo tổng hợp từ số liệu hiện có của Cục Thống kê và số liệu ngoại thương do Bộ Công Thương cung cấp, quy mô sản xuất toàn ngành Cơ khí tăng nhanh trong giai đoạn 2018-2025. Tổng giá trị sản xuất cơ khí tăng từ khoảng 1.626,3 nghìn tỷ VND (năm 2018) lên khoảng 3.225,5 nghìn tỷ VND (năm 2025), tương đương gần 2,0 lần; tốc độ tăng trưởng bình quân ước khoảng 10,3%/năm. Về ngoại thương, xuất khẩu máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng tăng từ 384,7 nghìn tỷ VND (năm 2018) lên 1.557,7 nghìn tỷ VND (năm 2025); nhập khẩu tăng từ 784,0 nghìn tỷ VND lên 1.610,0 nghìn tỷ VND. Nhờ đó, cán cân thương mại được cải thiện đáng kể, mức nhập siêu giảm từ 399,3 nghìn tỷ VND xuống còn khoảng 52,3 nghìn tỷ VND. Các con số này cho thấy cơ khí Việt Nam đã lớn lên rõ rệt cả về sản xuất và tham gia thương mại quốc tế. Tuy nhiên, nền tảng phát triển vẫn chưa thật vững, vì khu vực FDI còn chi phối rất lớn, chiếm khoảng 92-93% giá trị xuất khẩu và khoảng 75% giá trị nhập khẩu trong những năm gần đây.

Về tổ chức sản xuất, dữ liệu từ Cục Thống kê cho thấy ngành Cơ khí hiện có 43.601 cơ sở, chiếm gần 30% số doanh nghiệp công nghiệp chế biến, chế tạo. Trong đó, cơ khí chế tạo có 22.705 đơn vị, phương tiện vận tải 1.395 đơn vị và thiết bị điện 1.946 đơn vị. Ngành đạt doanh thu khoảng trên 3,2 triệu tỷ đồng, tạo việc làm cho hơn 1,57 triệu lao động; riêng cơ khí chế tạo khoảng 0,55 triệu người, phương tiện vận tải 0,29 triệu người và thiết bị điện 0,26 triệu người.

Rà soát việc thực hiện Quyết định số 319/QĐ-TTg về Chiến lược phát triển ngành Cơ khí Việt Nam cho thấy kết quả nổi bật nhất là quy mô sản xuất được mở rộng, một số phân ngành có bước phát triển và xuất khẩu tăng nhanh. Tuy nhiên, các kết quả về chiều sâu còn hạn chế. Năng lực làm chủ công nghệ lõi, hình thành tổ hợp tư vấn - chế tạo mạnh và nâng cao vai trò của doanh nghiệp trong nước trong các dự án trọng điểm chưa tạo được chuyển biến rõ rệt.

Quyết định số 319/QĐ-TTg đã đặt ra hệ thống mục tiêu khá toàn diện cho ngành Cơ khí đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2035. Trọng tâm là nâng cao năng lực tự chủ để đáp ứng khoảng 45% nhu cầu thị trường nội địa vào năm 2035; đồng thời thúc đẩy xuất khẩu, với tỷ trọng sản lượng xuất khẩu đạt khoảng 35% vào năm 2020 và 45% vào năm 2035. Về năng lực sản xuất, Chiến lược hướng tới hình thành các tập đoàn cơ khí mạnh, các tổ hợp tư vấn - chế tạo đủ năng lực đảm nhận vai trò tổng thầu EPC cho các dự án quy mô lớn trong lĩnh vực năng lượng, công nghiệp và hạ tầng. Cùng với đó là phát triển hệ sinh thái công nghiệp hỗ trợ, giúp doanh nghiệp trong nước làm chủ công nghệ, tăng hàm lượng thiết kế và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị.

Nhìn chung, việc thực hiện các mục tiêu tại Quyết định số 319/QĐ-TTg mới đạt mức trung bình khá. Ngành đã mở rộng được quy mô và xuất khẩu tăng mạnh, với giá trị xuất khẩu năm 2025 gấp khoảng 4 lần so với năm 2018. Tuy nhiên, phát triển giữa các phân ngành còn thiếu đồng đều; nhiều lĩnh vực công nghệ cao vẫn phụ thuộc vào nhập khẩu, tỷ lệ nội địa hóa thấp. Dù đã có một số doanh nghiệp đầu tàu như THACO, VinFast và một số đơn vị có năng lực như LILAMA, PVSHIPYARD, năng lực làm chủ thiết kế, vai trò tổng thầu và hệ sinh thái công nghiệp hỗ trợ vẫn chưa đạt kỳ vọng. Đặc biệt, tăng trưởng xuất khẩu vẫn chủ yếu dựa vào khu vực FDI, cho thấy nội lực và vị thế của doanh nghiệp cơ khí Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu còn hạn chế.

Nguyên nhân chưa đạt mục tiêu, từ cơ chế đến nội lực doanh nghiệp. Một trong những rào cản lớn là sau khi Quyết định số 319/QĐ-TTg được ban hành, hệ thống cơ chế thực thi và nguồn lực hỗ trợ chưa đủ đồng bộ, đủ mạnh để đưa mục tiêu chiến lược vào thực tế. Bên cạnh đó, ngành Cơ khí thiếu một thị trường nội địa ổn định, thiếu các đơn hàng dài hạn từ những dự án quốc gia để doanh nghiệp tích lũy kinh nghiệm và từng bước làm chủ công nghệ lõi. Nội lực của phần lớn doanh nghiệp trong nước còn yếu, quy mô nhỏ, năng lực tài chính hạn chế; không ít doanh nghiệp khi thị trường thuận lợi vẫn chọn nhập khẩu thay vì kiên trì đầu tư tự chủ. Vai trò của các doanh nghiệp đầu đàn cũng chưa như kỳ vọng, nhất là trong việc dẫn dắt và nâng đỡ hệ thống doanh nghiệp vệ tinh trong nước.

Thực tiễn triển khai cho thấy một chiến lược đúng mới chỉ là điều kiện cần. Muốn có kết quả, phải có chương trình hành động cụ thể, có trách nhiệm, nguồn lực và tiến độ rõ ràng cho từng lĩnh vực ưu tiên. Bài học quan trọng là phải gắn nâng cao năng lực doanh nghiệp với khai thác thị trường nội địa. Các dự án trọng điểm quốc gia cần được xem như “đơn hàng lớn” và cũng là môi trường thử thách để doanh nghiệp cơ khí trong nước tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị, qua đó tích lũy kinh nghiệm, mở rộng quy mô và tiến tới làm chủ công nghệ.

Dung lượng thị trường cơ khí giai đoạn 2026-2045 được dự báo trên cơ sở lấy quy mô sản xuất cơ khí năm 2025 làm năm gốc, kết hợp với kịch bản tăng trưởng khoảng10%/năm. Theo cách tính này, quy mô thị trường có thể đạt khoảng 21.699,6 nghìn tỷ VND trong cả giai đoạn.

Ở các thị trường trọng điểm, điện gió ngoài khơi ước đạt khoảng 3.165,6-4.484,6 nghìn tỷ VND; điện khí/LNG khoảng 1.055,2-1.450,9 nghìn tỷ VND; ba lĩnh vực đường sắt đô thị, đường sắt liên vùng và đường sắt tốc độ cao khoảng 3.418,8-3.693,2 nghìn tỷ VND; khai thác và chế biến khoáng sản khoảng 1.055,2-1.582,8 nghìn tỷ VND; điện hạt nhân khoảng 2.844,8-4.267,2 nghìn tỷ VND. Đây là những lĩnh vực có giá trị thiết bị lớn, yêu cầu kỹ thuật cao và có thể tạo thị trường dẫn dắt cho cơ khí trong nước nếu doanh nghiệp Việt Nam được tham gia từ sớm bằng cơ chế phù hợp.

Từ các dự báo trên có thể thấy thị trường trong nước giai đoạn 2026-2045 đủ lớn để tạo động lực mới cho ngành Cơ khí, nhưng cần lựa chọn đúng trọng tâm. Các lĩnh vực nên ưu tiên gồm đường sắt, năng lượng, lưới điện, khai thác và chế biến khoáng sản, đóng tàu, ô tô - xe máy, thiết bị điện, cơ khí nông nghiệp, thiết bị đồng bộ và dịch vụ kỹ thuật sau đầu tư. Đây là các lĩnh vực vừa có quy mô thị trường lớn, vừa có khả năng lan tỏa sang công nghiệp hỗ trợ và hình thành doanh nghiệp cơ khí nòng cốt.

Trạm hàn các phần Sub của khung xe ô tô điện 5 chỗ ngồi do Narime thiết kế, chế tạo cung cấp cho Nhà máy ô tô VINFAST.

Nói cách khác, cơ hội của cơ khí Việt Nam nằm ngay trong thị trường trong nước. Vấn đề then chốt là phải biến nhu cầu đầu tư thành đơn hàng cụ thể, nhiệm vụ chuyển giao công nghệ cụ thể và yêu cầu nội địa hóa cụ thể cho doanh nghiệp Việt Nam. Nếu thiếu cơ chế thực hiện rõ ràng, phần lớn giá trị thiết bị của các dự án lớn vẫn sẽ thuộc về nhà thầu và nhà cung cấp nước ngoài.

Dư địa từ đường sắt đô thị, đường sắt liên vùng, điện khí, điện gió ngoài khơi, khai thác và chế biến khoáng sản là rất lớn, nhưng nhiều doanh nghiệp cơ khí nội địa vẫn đứng ngoài các khâu có giá trị cao nhất. Điểm yếu lớn nhất hiện nay là năng lực thiết kế tổng thể và tích hợp hệ thống cho các dây chuyền thiết bị đồng bộ. Trong khi đối tác nước ngoài nắm phần cốt lõi của dự án như công nghệ, thiết kế, phần mềm điều khiển và tiêu chuẩn tích hợp, doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu tham gia ở các phần việc gia công kết cấu thép, chế tạo chi tiết đơn lẻ hoặc lắp đặt.

Việc thiếu đội ngũ tư vấn thiết kế đủ mạnh khiến chúng ta bị động trong mua sắm thiết bị và dịch vụ kỹ thuật chuyên sâu. Ví dụ, ở các dự án điện gió ngoài khơi, doanh nghiệp trong nước có thể tham gia tốt hơn ở các hạng mục như chân đế, kết cấu thép, trạm biến áp; nhưng các khâu then chốt như thiết kế tổng thể, tích hợp hệ thống, tuabin, điều khiển và quản trị vận hành vẫn phụ thuộc nhiều vào nhà cung cấp nước ngoài. Khi chưa làm chủ thiết kế tích hợp, doanh nghiệp nội chỉ tham gia ở phần giá trị thấp, mất quyền chủ động về nguồn cung linh kiện và phụ thuộc vào yêu cầu kỹ thuật từ bên ngoài. Nếu không đầu tư nghiêm túc cho R&D và hình thành các liên minh công nghệ để giải bài toán tích hợp, cơ khí Việt Nam khó thoát khỏi vị trí gia công, lắp ráp, trong khi các đơn hàng lớn tiếp tục thuộc các tập đoàn đa quốc gia.

Vì vậy, ban hành cơ chế, chính sách đặc thù cho ngành Cơ khí giai đoạn 2026-2045 là yêu cầu cấp thiết. Mục tiêu là phá vỡ vòng luẩn quẩn “năng lực yếu vì thiếu cơ hội, thiếu cơ hội vì năng lực yếu”, từng bước giúp doanh nghiệp Việt Nam thoát khỏi cảnh làm thuê ngay trên sân nhà. Theo tinh thần Nghị quyết số 29-NQ/TW về đẩy mạnh công nghiệp hóa và Chiến lược phát triển ngành Cơ khí, cần có chính sách đủ mạnh để biến các dự án lớn của quốc gia thành đơn hàng thực tế cho doanh nghiệp trong nước, thay vì để phần lớn giá trị rơi vào nhà thầu nước ngoài. Chỉ khi có cơ chế mang tính đột phá, doanh nghiệp mới có động lực đầu tư vào các khâu cốt yếu như thiết kế, tích hợp hệ thống, thử nghiệm, chứng nhận và quản trị dự án, từ đó tạo nền tảng cho một nền công nghiệp cơ khí tự chủ hơn.

Cơ chế, chính sách tạo đột phá trong giai đoạn tới cần tập trung vào các lĩnh vực có dung lượng thị trường lớn, tác động lan tỏa cao và có khả năng đưa doanh nghiệp Việt Nam lên các khâu thiết kế, tích hợp hệ thống, quản lý dự án và chế tạo thiết bị. Hỗ trợ phải có điều kiện, có thời hạn, có tiêu chí lượng hóa và gắn với kết quả đầu ra. Không nên dàn trải cho toàn ngành, mà cần tập trung vào sản phẩm cơ khí trọng điểm, doanh nghiệp nòng cốt, dự án ưu tiên và các khâu có giá trị gia tăng cao. Trước mắt, cần giải quyết các nhiệm vụ cụ thể sau:

 Phát triển sản phẩm cơ khí trọng điểm gắn với thị trường và nâng cao tỷ lệ nội địa hóa thiết bị: Nội dung này cần được triển khai thông qua các chương trình trọng điểm gắn với dự án đầu tư quốc gia, sử dụng thị trường trong nước làm bệ đỡ thực chất để từng bước làm chủ thiết kế, tích hợp hệ thống, quản lý dự án, tổng thầu, chế tạo thiết bị và phát triển công nghiệp hỗ trợ. Các chương trình nên tập trung vào lĩnh vực có dung lượng thị trường lớn, tác động lan tỏa cao và có khả năng đưa doanh nghiệp Việt Nam lên các khâu có giá trị gia tăng cao hơn trong chuỗi giá trị công nghiệp.

 Nâng cao năng lực thiết kế, nghiên cứu, chuyển giao và làm chủ công nghệ: Cần từng bước đưa doanh nghiệp cơ khí Việt Nam từ vị trí chủ yếu gia công, chế tạo từng phần lên làm chủ thiết kế kỹ thuật, thiết kế tổng thể, tích hợp hệ thống, quản lý dự án và tổng thầu trong các lĩnh vực ưu tiên như đường sắt, điện gió ngoài khơi, điện khí, khai thác và chế biến khoáng sản, đóng tàu. Đến năm 2035, hình thành ít nhất 01 trung tâm thử nghiệm đường sắt quốc gia phục vụ mô phỏng, thử nghiệm và cấp chứng nhận độc lập. Trong giai đoạn 2026-2035, ưu tiên lựa chọn ít nhất 01 chương trình khoa học và công nghệ cấp quốc gia cho từng nhóm sản phẩm quan trọng như thiết bị đường sắt, điện gió ngoài khơi, khai thác và chế biến khoáng sản, đóng tàu; đồng thời đến năm 2030, trong mỗi nhóm sản phẩm ưu tiên hình thành ít nhất 01 chương trình nghiên cứu, thiết kế, thử nghiệm cấp quốc gia hoặc cấp bộ, gắn với doanh nghiệp nòng cốt và sản phẩm đầu ra cụ thể.

 Phát triển doanh nghiệp cơ khí nòng cốt và nâng cao năng lực sản xuất: Cần lựa chọn các doanh nghiệp có quy mô, năng lực quản trị và tài chính vững mạnh để dẫn dắt chuỗi cung ứng và làm chủ công nghệ nguồn. Lộ trình đề xuất là đến năm 2030 hỗ trợ 7-10 doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực trọng điểm như đường sắt, năng lượng, khai khoáng, đóng tàu, robot - tự động hóa; đến năm 2035 hình thành 7-10 doanh nghiệp nòng cốt, trong đó có 3-5 đơn vị đủ năng lực làm tổng thầu hoặc tích hợp hệ thống lớn; đến năm 2045 đạt 15-20 doanh nghiệp nòng cốt, trong đó 5-7 doanh nghiệp đạt trình độ khu vực. Các đơn vị này phải đáp ứng tiêu chí về R&D, năng lực engineering và cam kết phát triển mạng lưới nhà cung ứng nội địa. Mỗi chu kỳ 05 năm, doanh nghiệp được giao chỉ tiêu cụ thể về số nhóm sản phẩm làm chủ thiết kế, tỷ lệ giá trị gia tăng và doanh thu dịch vụ kỹ thuật; nếu không đạt cam kết sau 03 năm đánh giá thì đưa ra khỏi danh mục ưu tiên.

 Phát triển nguồn nhân lực cho ngành Cơ khí: Trước năm 2030, cần hoàn thành rà soát, điều chỉnh chương trình đào tạo đại học và sau đại học theo nhu cầu thực tế của các doanh nghiệp cơ khí trọng điểm; hình thành ít nhất 20 chương trình đào tạo gắn trực tiếp với dự án thực tế. Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì, phối hợp với Bộ Công Thương, các cơ sở đào tạo và doanh nghiệp triển khai chương trình đào tạo công nhân kỹ thuật lành nghề và nhân lực sản xuất thông minh. Mục tiêu đến năm 2035 đào tạo khoảng 20.000-25.000 kỹ sư, chuyên gia và 150.000-200.000 lao động kỹ thuật lành nghề; tiếp tục mở rộng quy mô đến năm 2045 để đáp ứng yêu cầu của các chương trình trọng điểm.

Ngành Cơ khí giữ vai trò nền tảng trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa và nâng cao năng lực tự chủ của nền kinh tế. Mức độ phát triển của ngành quyết định khả năng cung ứng máy móc, thiết bị, dây chuyền công nghệ và dịch vụ kỹ thuật cho các ngành sản xuất; đồng thời ảnh hưởng trực tiếp đến năng lực triển khai các dự án lớn về năng lượng, giao thông, khai khoáng, quốc phòng và hạ tầng kỹ thuật. Giai đoạn 2026-2045 mở ra thị trường rất lớn cho cơ khí Việt Nam, nhất là trong các lĩnh vực năng lượng, đường sắt, giao thông vận tải, khai khoáng, công nghiệp chế biến chế tạo, đóng tàu, nông nghiệp và logistics. Đây là cơ hội quan trọng để nâng cao năng lực doanh nghiệp cơ khí trong nước. Tuy nhiên, cơ hội chỉ chuyển hóa thành kết quả thực chất nếu có chiến lược đúng, cơ chế đủ mạnh và tổ chức thực hiện hiệu quả. Vì vậy, việc ban hành cơ chế, chính sách đặc thù để phát triển các lĩnh vực có dung lượng thị trường lớn cho ngành Cơ khí giai đoạn 2026-2045 là cần thiết, nhằm định hướng ngành phát triển theo hướng hiện đại, nâng cao năng lực thiết kế, chế tạo, tích hợp hệ thống, làm chủ công nghệ và tăng tỷ lệ giá trị do doanh nghiệp Việt Nam thực hiện.

TS. Phan Đăng Phong, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Cơ khí (NARIME).

Có thể bạn quan tâm

Tạp chí Cơ khí Việt Nam được công nhận là Tạp chí đạt chuẩn khoa học Việt Nam năm 2026

Ngày 28/4/2026, Bộ Khoa học và Công nghệ đã ban hành Quyết định số 2244/QĐ-BKHCN công bố Danh mục tạp chí đạt tiêu chuẩn khoa học Việt Nam năm 2026. Trong danh mục này, Tạp chí Cơ khí Việt Nam chính thức được công nhận là tạp chí đạt chuẩn khoa học, đánh dấu bước phát triển quan trọng trong quá trình nâng cao chất lượng học thuật và hội nhập quốc tế.

Toàn văn bài nói chuyện của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm với công nhân, người lao động Thành phố Hồ Chí Minh

Ngày 27/4, nhân kỷ niệm 51 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2026) và Ngày Quốc tế Lao động 1/5, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã đến thăm, gặp gỡ, trò chuyện với công nhân, người lao động Thành phố Hồ Chí Minh. Tạp chí Cơ khí Việt Nam xin trân trọng giới thiệu toàn văn nội dung bài nói chuyện của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm với anh chị em công nhân, người lao động Thành phố Hồ Chí Minh.

TP.HCM trao chứng nhận đầu tư 1,23 tỷ USD cho 4 dự án công nghệ cao: Tăng tốc hạ tầng số, AI và sản xuất thông minh

Ngày 25/4, Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức Lễ trao Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho bốn dự án công nghệ cao chiến lược với tổng vốn lên tới 1,23 tỷ USD. Sự kiện không chỉ đánh dấu bước tiến mới trong thu hút đầu tư chất lượng cao, mà còn khẳng định định hướng phát triển của thành phố theo mô hình kinh tế số, đổi mới sáng tạo và công nghiệp công nghệ cao.

Việt Nam – Hàn Quốc thúc đẩy hợp tác khoa học, công nghệ theo chiều sâu, hướng tới giá trị thực chất

Trong khuôn khổ chuyến thăm cấp nhà nước tới Việt Nam của Tổng thống Hàn Quốc Lee Jae Myung, Diễn đàn Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo Việt Nam – Hàn Quốc đã trở thành điểm nhấn quan trọng, mở ra những định hướng hợp tác mới theo hướng thực chất, gắn nghiên cứu với ứng dụng và nhu cầu của doanh nghiệp.

Toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Giỗ Tổ Hùng Vương

Trong không khí trang nghiêm và thành kính của Giỗ Tổ Hùng Vương, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã có bài phát biểu xúc động tại đỉnh núi Nghĩa Lĩnh trong Khu di tích lịch sử Đền Hùng.
0904177637
  • Zalo
  • Messenger
  • Back to top