Trong Chiến lược phát triển ngành cơ khí Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2035 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 319/QĐ-TTg ngày 15/3/2018, thiết bị công nghiệp và dây chuyền thiết bị đồng bộ là một trong những lĩnh vực thể hiện rõ năng lực tự chủ của ngành cơ khí. Đây không chỉ là câu chuyện chế tạo được những máy móc, kết cấu riêng lẻ, mà còn là khả năng thiết kế, tích hợp, lắp đặt, vận hành và bảo đảm hiệu suất của cả một hệ thống công nghiệp.
Năng lực chế tạo thiết bị công nghiệp từng bước được khẳng định
Theo báo cáo “Đánh giá kết quả thực hiện Quyết định số 319/QĐ-TTg ngày 15/3/2018 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển ngành cơ khí Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2035” của Viện Nghiên cứu Cơ khí, một trong những kết quả đáng chú ý của giai đoạn thực hiện Quyết định 319 là sự trưởng thành của đội ngũ doanh nghiệp cơ khí trong nước. Nhiều đơn vị đã tích lũy được kinh nghiệm thiết kế, chế tạo, lắp đặt và cung cấp dịch vụ kỹ thuật cho các hệ thống thiết bị phục vụ nhà máy điện, xi măng, khai thác và chế biến khoáng sản, hóa chất, giấy, chế biến nông sản và các công trình hạ tầng.
Các doanh nghiệp như NARIME, LILAMA, COMA, MIE, AGRIMECO, PVC, PTSC cùng một số doanh nghiệp tư nhân đã từng bước nâng cao năng lực quản lý dự án, chế tạo thiết bị phi tiêu chuẩn, vận chuyển và lắp đặt thiết bị siêu trường, siêu trọng, tổ chức chạy thử và cung cấp dịch vụ sau đầu tư.
Đáng chú ý, phạm vi công việc của doanh nghiệp Việt Nam đã mở rộng hơn so với hoạt động gia công đơn thuần. Trong nhiều dự án, doanh nghiệp có thể đảm nhận thiết kế chi tiết, thiết kế chế tạo và cung cấp các hệ thống cấp liệu, vận chuyển vật liệu, cấp than, thải tro xỉ, lọc bụi tĩnh điện, kho nguyên liệu, nghiền, đóng bao và xuất sản phẩm. Một số hệ thống tuyển, chế biến khoáng sản, phát điện tận dụng nhiệt dư và điều khiển, giám sát cũng đã được triển khai với sự tham gia của các đơn vị trong nước.
Trong lĩnh vực cơ khí thủy công, NARIME cùng các đơn vị cơ khí Việt Nam đã làm chủ thiết kế và chế tạo thiết bị cho hơn 29 công trình thủy điện vừa và lớn, trong đó có Nhà máy Thủy điện Sơn La công suất 2.400 MW và Nhà máy Thủy điện Lai Châu công suất 1.200 MW. Đây là những công trình đòi hỏi yêu cầu kỹ thuật cao, năng lực tổ chức chế tạo và kiểm soát chất lượng nghiêm ngặt.
Ở lĩnh vực công nghiệp ô tô, năng lực thiết kế, chế tạo và tích hợp dây chuyền, đồ gá hàn cho các dòng xe điện VinFast cũng cho thấy doanh nghiệp cơ khí trong nước đã có thêm cơ hội tham gia những lĩnh vực sản xuất có yêu cầu công nghệ ngày càng cao.
Những kết quả trên là minh chứng cho quá trình tích lũy năng lực của ngành cơ khí Việt Nam. Dù chưa đồng đều giữa các lĩnh vực, đội ngũ doanh nghiệp trong nước đã có nền tảng để tiếp tục mở rộng phạm vi công việc, nâng cao mức độ tự chủ và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng công nghiệp.

Dây chuyền công nghệ thiết bị, đồ gá hàn thân vỏ xe ô tô của VinFast do NARIME thiết kế, chế tạo, cung cấp, lắp đặt, hướng dẫn vận hành sản xuất.
Từ thiết bị thành phần đến các hệ thống đồng bộ
Trong lĩnh vực xi măng, chương trình nghiên cứu, thiết kế và chế tạo thiết bị cho dây chuyền xi măng lò quay công suất 2.500 tấn clinker/ngày đã tạo ra một số sản phẩm có giá trị ứng dụng thực tế, như máy đóng bao tự động, hệ thống lọc bụi công suất lớn và hệ thống điều khiển, được ứng dụng tại Nhà máy Xi măng Sông Thao. Tỷ lệ nội địa hóa của dự án được ghi nhận khoảng 40% giá trị.
Dự án Xi măng Thái Nguyên đạt tỷ lệ nội địa hóa khoảng 65,7%. Cùng với đó, nhiệm vụ nghiên cứu hệ thống thiết bị đồng bộ kho nguyên liệu tổng hợp cho nhà máy xi măng công suất từ 4.000 tấn clinker/ngày tiếp tục góp phần nâng cao năng lực thiết kế, chế tạo và tích hợp thiết bị trong nước.
Trong lĩnh vực nhiệt điện, doanh nghiệp Việt Nam đã tham gia cung cấp các hệ thống có quy mô lớn như cấp than, thải tro xỉ và lọc bụi tĩnh điện cho tổ máy công suất 600 MW. Các dự án Sông Hậu 1 và Quảng Trạch 1 cho thấy khả năng đảm nhận phạm vi công việc rộng hơn, từ chế tạo, cung cấp đến lắp đặt và dịch vụ kỹ thuật đối với một số hệ thống phụ trợ quan trọng.
Theo báo cáo đánh giá, phạm vi thiết bị được nội địa hóa trong các dự án này ước khoảng 25% giá trị thiết bị nhà máy, bao gồm những hệ thống trước đây phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu như lọc bụi tĩnh điện, thải tro xỉ, bốc dỡ, vận chuyển và chứa than, cùng một số hạng mục điện động lực.
Trong lĩnh vực khai thác, chế biến khoáng sản và công nghiệp vật liệu, doanh nghiệp trong nước đã thực hiện thiết kế, chế tạo và tích hợp nhiều hệ thống vận chuyển, tuyển, nghiền, sấy, cấp liệu, lọc bụi và kho chứa. Một số đơn vị có khả năng đảm nhận EPCM hoặc tổng thầu từng phần, tạo cơ sở để tiếp tục nâng cao năng lực trong các dự án tuyển quặng, chế biến sâu khoáng sản và sản xuất alumin.
Ở lĩnh vực điện gió, doanh nghiệp Việt Nam hiện chủ yếu tham gia chế tạo kết cấu như móng, chân đế và cột tháp. Nếu có cơ chế nội địa hóa và phân định phạm vi công việc phù hợp, doanh nghiệp trong nước có tiềm năng đảm nhận khoảng 45–50% giá trị đầu tư của các dự án điện gió trong dài hạn. Tuy nhiên, đây là mức tiềm năng cần được hiện thực hóa bằng năng lực công nghệ, khả năng cung ứng và cơ chế thị trường phù hợp, không phải tỷ lệ nội địa hóa đã đạt được trên thực tế.
Nhìn từ các lĩnh vực trên, năng lực chế tạo thiết bị công nghiệp của Việt Nam đã có những bước tiến đáng kể. Một số doanh nghiệp đã chuyển từ cung cấp từng chi tiết, kết cấu sang đảm nhận những hệ thống có tính liên kết cao hơn. Dẫu vậy, khả năng cung cấp một dây chuyền đồng bộ vẫn cần được đánh giá trên toàn bộ quá trình, từ thiết kế công nghệ, chế tạo thiết bị chính, tích hợp cơ khí – điện – điều khiển đến chạy thử và bảo đảm các chỉ tiêu vận hành.
Năng lực tổng thầu được cải thiện, nhưng chưa đồng đều
Cùng với năng lực chế tạo, khả năng tổ chức thi công và quản trị dự án của doanh nghiệp cơ khí Việt Nam cũng được nâng lên. Một số doanh nghiệp đã có kinh nghiệm lập tiến độ, quản lý giao diện kỹ thuật, tổ chức mua sắm, kiểm soát chất lượng, điều phối chế tạo tại nhiều địa điểm và lắp đặt tại công trường.
LILAMA đã đảm nhận tổng thầu EPC tại nhiều dự án điện như Vũng Áng 1, Sông Hậu 1 và Nhơn Trạch 2, 3. PTSC phát triển năng lực chế tạo kết cấu siêu trường, siêu trọng, cơ khí chế tạo và cung cấp dịch vụ kỹ thuật cho ngành dầu khí, điện gió ngoài khơi và các công trình biển.
Kinh nghiệm từ những dự án này tạo cơ sở để doanh nghiệp Việt Nam mở rộng vai trò trong các dự án công nghiệp, từng bước nâng cao năng lực quản lý, phối hợp giữa thiết kế, chế tạo và lắp đặt.
Một điểm đáng chú ý khác là năng lực cải tạo, nâng công suất, tối ưu hóa và thay thế thiết bị tại các nhà máy đang vận hành phát triển tương đối nhanh. Đây là phân khúc doanh nghiệp trong nước có lợi thế nhờ am hiểu điều kiện sản xuất, khả năng đáp ứng nhanh và chi phí cạnh tranh. Việc duy trì, cải tiến các hệ thống hiện hữu cũng giúp doanh nghiệp tích lũy kinh nghiệm thực tế, nâng cao năng lực xử lý sự cố và từng bước làm chủ công nghệ.
Điểm nghẽn lớn nhất nằm ở thiết kế công nghệ và tích hợp hệ thống
Mặc dù đã đạt được những kết quả tích cực, mức độ tự chủ của ngành cơ khí Việt Nam trong lĩnh vực thiết bị công nghiệp và dây chuyền đồng bộ vẫn còn hạn chế.
Trước hết, kết quả phát triển chủ yếu tập trung ở thiết bị thành phần, hệ thống phụ trợ và phần cơ khí. Năng lực cung cấp dây chuyền công nghệ hoàn chỉnh chưa được mở rộng trên diện rộng. Trong nhiều dự án, công nghệ, sơ đồ dây chuyền và danh mục thiết bị chính vẫn do đối tác nước ngoài quyết định; doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu tham gia ở khâu chế tạo, lắp đặt hoặc thực hiện một phần gói thầu.
Bên cạnh đó, công nghiệp hỗ trợ chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu về vật liệu, linh kiện và thiết bị điều khiển. Nhiều sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao như hộp giảm tốc lớn, vòng bi đặc chủng, cảm biến, PLC/DCS, biến tần công suất lớn, thiết bị đo phân tích và vật liệu chịu mài mòn, chịu nhiệt vẫn phải nhập khẩu.
Năng lực thử nghiệm, mô phỏng, kiểm chứng và chứng nhận hiệu suất toàn hệ thống cũng còn hạn chế. Khi thiếu cơ sở kiểm chứng độc lập và dữ liệu vận hành đáng tin cậy, chủ đầu tư có thể thận trọng hơn khi lựa chọn thiết bị trong nước, còn doanh nghiệp Việt Nam gặp khó khăn trong việc chứng minh chất lượng sản phẩm khi tham gia các dự án lớn hoặc tìm kiếm cơ hội xuất khẩu.
Một trở ngại khác là cơ chế tạo thị trường. Các dự án công nghiệp lớn thường đặt ra yêu cầu cao về kinh nghiệm thực hiện dự án tương tự, năng lực tài chính và bảo lãnh hợp đồng. Những yêu cầu này có thể khiến doanh nghiệp trong nước khó tiếp cận các dự án đầu tiên để tích lũy hồ sơ tham chiếu, dù đã có năng lực chế tạo một phần thiết bị.
Báo cáo cũng chỉ ra việc triển khai cơ chế theo Quyết định số 1791/QĐ-TTg ngày 29/11/2012 về thiết kế, chế tạo trong nước thiết bị các nhà máy nhiệt điện giai đoạn 2012–2025 chưa đầy đủ, nên chưa tạo được thị trường đủ mạnh cho doanh nghiệp nội địa. Cùng với đó, liên kết giữa các doanh nghiệp cơ khí còn lỏng lẻo, chưa hình thành ổn định mô hình doanh nghiệp dẫn dắt chịu trách nhiệm thiết kế, tích hợp và tổ chức mạng lưới nhà cung cấp chuyên môn hóa.
Cần chuyển từ nội địa hóa thiết bị sang làm chủ dây chuyền
Theo đánh giá trong báo cáo, mức độ hoàn thành mục tiêu đối với nhóm thiết bị công nghiệp và dây chuyền thiết bị đồng bộ mới đạt một phần. Mặc dù Việt Nam đã hình thành đội ngũ doanh nghiệp có khả năng thiết kế, chế tạo và tích hợp nhiều hệ thống cơ khí phức tạp, kết quả tổng thể của nhóm thiết bị đồng bộ mới đáp ứng dưới 20% nhu cầu trong nước, còn cách xa mục tiêu 45% được xác định trong Quyết định 319.
Khoảng cách này phản ánh một vấn đề quan trọng: năng lực chế tạo thiết bị thành phần đã có bước tiến, nhưng năng lực làm chủ toàn bộ dây chuyền và tổ chức cung ứng trên quy mô thương mại vẫn chưa tương xứng. Vì vậy, giai đoạn tiếp theo cần tập trung vào những giải pháp có khả năng tạo chuyển biến thực chất.
Trước hết, cần lựa chọn các hệ thống thiết bị có nhu cầu thị trường rõ ràng để tập trung nghiên cứu, thiết kế và chế tạo trong nước. Các lĩnh vực như thiết bị phụ trợ nhà máy điện, hệ thống vận chuyển và xử lý vật liệu, thiết bị công nghiệp cho ngành xi măng, khai khoáng, chế biến khoáng sản và các hệ thống phục vụ năng lượng có thể là những hướng ưu tiên, trên cơ sở đánh giá cụ thể năng lực doanh nghiệp và hiệu quả đầu tư.
Thứ hai, cần tạo điều kiện để doanh nghiệp Việt Nam tham gia sớm hơn vào quá trình chuẩn bị dự án, từ xây dựng yêu cầu kỹ thuật, lựa chọn cấu hình công nghệ đến thiết kế và lập phương án chế tạo. Việc tham gia từ đầu giúp doanh nghiệp có cơ hội làm chủ nhiều khâu hơn, thay vì chỉ tiếp nhận những hạng mục đã được xác định sẵn bởi nhà thầu nước ngoài.
Thứ ba, cần phát triển mô hình liên kết giữa viện nghiên cứu, doanh nghiệp thiết kế, đơn vị chế tạo, nhà cung cấp thiết bị điều khiển và doanh nghiệp lắp máy. Trong mô hình này, doanh nghiệp dẫn dắt đóng vai trò chịu trách nhiệm về thiết kế, tích hợp và hiệu suất của hệ thống; các doanh nghiệp chuyên môn hóa đảm nhận từng nhóm thiết bị, linh kiện và dịch vụ kỹ thuật. Cách tổ chức này sẽ giúp khắc phục tình trạng sản xuất phân tán, đồng thời nâng cao khả năng phối hợp và kiểm soát chất lượng.
Thứ tư, chính sách hỗ trợ cần gắn với kết quả làm chủ công nghệ và khả năng thương mại hóa. Bên cạnh tỷ lệ nội địa hóa, cần đánh giá năng lực thiết kế tổng thể, phạm vi thiết bị chính do doanh nghiệp Việt Nam chế tạo, mức độ tự chủ tích hợp, khả năng vận hành ổn định và khả năng lặp lại sản phẩm ở các dự án tiếp theo.
Cuối cùng, cần đầu tư cho hạ tầng thử nghiệm, kiểm định và chứng nhận hiệu suất thiết bị, đồng thời nâng cao năng lực nguồn nhân lực về thiết kế công nghệ, tự động hóa, điều khiển và quản trị dự án. Đây là những điều kiện quan trọng để sản phẩm cơ khí trong nước đáp ứng yêu cầu của các dự án lớn và từng bước tiếp cận thị trường quốc tế.
Thực tiễn triển khai Quyết định 319 cho thấy ngành cơ khí Việt Nam đã có nền tảng đáng kể về chế tạo, lắp đặt và cung cấp các hệ thống thiết bị công nghiệp. Tuy nhiên, để chuyển từ năng lực thực hiện từng hạng mục sang khả năng cung cấp dây chuyền đồng bộ, ngành cần giải quyết đồng thời bài toán công nghệ, thị trường, liên kết doanh nghiệp và cơ chế hỗ trợ.



