Sự kiện - Vấn đề

Dự án đường sắt tốc độ cao là cơ hội cho ngành công nghiệp cơ khí chuyển mình mạnh mẽ

18/10/2024 06:10
9262 Lượt xem
Dự án đường sắt tốc độ cao tạo thị trường đủ lớn, thúc đẩy doanh nghiệp công nghiệp trong nước nghiên cứu, sản xuất các chi tiết, phụ tùng cho dự án và hướng tới xuất khẩu.

Chủ trương đầu tư toàn tuyến dự án đường sắt tốc độ cao (350 km/h) trên trục Bắc Nam đã được hội nghị Trung ương 10 khóa 13 thống nhất vào giữa tháng 9. Theo đề xuất của Bộ Giao thông Vận tải (GTVT), dự án có tổng mức đầu tư sơ bộ hơn 1,7 triệu tỷ đồng (tương đương 67,34 tỷ USD), tuyến đường đôi, khổ 1.435 mm. Dự án có tổng chiều dài 1.541km với 60% là kết cấu cầu, 30% kết cấu nền đất, 10% kết cấu hầm sẽ là cơ hội mang lại khối lượng công việc khổng lồ cho các nhà thầu xây lắp hạ tầng giao thông Việt Nam. 

Theo tính toán, việc đầu tư đường sắt tốc độ cao Bắc Nam tạo ra thị trường xây dựng giá trị khoảng 33,5 tỷ USD. Nếu tính cả hệ thống đường sắt quốc gia, đường sắt đô thị sẽ tạo ra thị trường xây dựng 75,6 tỷ USD, trong đó sản xuất phương tiện, thiết bị 34,1 tỷ USD (đầu máy, toa xe 9,8 tỷ USD; hệ thống thông tin tín hiệu và thiết bị khác 24,3 tỷ USD).

Bộ Giao thông Vận tải trao đổi thông tin với báo chí về chủ trương đầu tư dự án đường sắt cao tốc Bắc - Nam.

Thứ trưởng Bộ GTVT Nguyễn Danh Huy khẳng định, dự án đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam có quy mô đặc biệt lớn, có công nghệ mới và lần đầu tiên triển khai, trong quá trình xây dựng đề án trình Bộ Chính trị, sau đó trình Trung ương, cũng như báo cáo khả thi Chính phủ trình Quốc hội lần này, Bộ GTVT đều đưa ra cơ chế chính sách làm sao doanh nghiệp trong nước tham gia được. Việt Nam làm đường sắt tốc độ cao sẽ bằng nguồn ngân sách và ít chịu ràng buộc chuyển giao công nghệ nước ngoài. Nếu có sự tham gia của nhà thầu nước ngoài, điều kiện tiên quyết là phải sử dụng dịch vụ hàng hóa mà trong nước sản xuất được, tạo điều kiện cho doanh nghiệp trong nước tham gia với giá trị xây dựng lên tới 34 tỷ USD.

Bộ GTVT đánh giá với năng lực, trình độ ở trong nước hiện nay, khả năng nội địa hóa, làm chủ công nghệ giữa các dải tốc độ 250 km/h, 300 km/h, 350 km/h là tương tự nhau. Nghiên cứu cho thấy, nếu được chuyển giao công nghệ và có một số cơ chế chính sách thích hợp, Việt Nam có thể làm chủ toàn bộ công nghiệp xây dựng, tự chủ toàn bộ công tác vận hành, bảo trì và từng bước nội địa hóa sản xuất một số linh kiện, phụ tùng thay thế.

Lãnh đạo Bộ GTVT khẳng định, chúng ta tự tin các doanh nghiệp Việt Nam có thể tham gia, tiến tới làm chủ, chỉ cần cơ chế chính sách.

Báo cáo của Bộ GTVT cho biết, Việt Nam phấn đấu hoàn thành đầu tư toàn tuyến đường sắt cao tốc Bắc - Nam trong năm 2035. Dự án này, không chỉ tạo cú hích phát triển kinh tế - xã hội mà còn mở ra cơ hội để tiếp nhận, chuyển giao, làm chủ công nghệ và phát triển công nghiệp đường sắt; tạo đột phá trong các ngành cơ khí, chế tạo, tự động hóa…

Ngoài việc nắm bắt, làm chủ toàn bộ công tác vận hành, bảo trì và từng bước sản xuất một số linh kiện, phụ tùng thay thế đối với đường sắt tốc độ cao, đường sắt đô thị, dự án đường sắt tốc độ cao sẽ là cơ hội không thể tốt hơn cho ngành công nghiệp cơ khí Việt Nam có bước chuyển mình mạnh mẽ”- báo cáo nhấn mạnh.

Dự án đường sắt tốc độ cao sẽ là cơ hội mang lại khối lượng công việc khổng lồ cho các nhà thầu xây lắp hạ tầng giao thông Việt Nam. 

Với định hướng trên, ngành giao thông đã xác định hoàn toàn làm chủ xây dựng hạ tầng (cầu, đường, hầm) và tự chủ hoàn toàn trong vận hành, bảo trì, sửa chữa đường sắt tốc độ cao.

Ông Hoàng Năng Khang, Phó tổng giám đốc Tổng công ty Đường sắt Việt Nam (VNR), cho biết dự án đường sắt tốc độ cao bao gồm xây dựng hạ tầng nền đường, cầu, hầm và các hạng mục trên nền đường như tà vẹt, ray, ghi. Phương tiện đường sắt gồm đầu máy, toa xe. Ngoài ra, tuyến đường sắt còn cần hệ thống thông tin tín hiệu, điện, thiết bị điều khiển... Tổng cộng số thiết bị cho hạ tầng và phương tiện là hơn 10.000 chi tiết.

Dự án đường sắt tốc độ cao tạo thị trường đủ lớn, thúc đẩy doanh nghiệp công nghiệp trong nước nghiên cứu, sản xuất các chi tiết, phụ tùng cho dự án và hướng tới xuất khẩu”- ông Hoàng Năng Khang khẳng định.

Theo ông Khang, hiện nay các đơn vị xây dựng giao thông trong nước đã tự chủ được phần xây dựng hạ tầng đường, cầu hầm, tà vẹt bêtông. Phần thiết bị trên nền đường như ray, ghi... hiện ngành đường sắt phải nhập khẩu.

Về phương tiện, VNR đã đóng mới được 158 toa xe khách với tỷ lệ nội địa hóa 80%; đóng mới 480 toa xe hàng với tỷ lệ nội địa hóa 70%. Đầu máy tàu được đóng mới có tỷ lệ nội địa hóa hơn 10%. Còn phần lớn bộ phận toa xe như trục bánh xe, hệ thống hãm, giá chuyển hướng... phải nhập khẩu.

Khi triển khai dự án, ngành đường sắt sẽ nhận chuyển giao các công nghệ sản xuất toa xe, chế tạo trục bánh xe, hệ thống hãm, giá chuyển hướng... Mục tiêu là liên kết sản xuất một số vật tư, phụ tùng, thiết bị đường sắt đô thị và đường sắt tốc độ cao, đạt tỷ lệ nội địa hóa phương tiện 30-40%; làm chủ được công tác bảo trì, bảo dưỡng phương tiện.

Nhiều doanh nghiệp khác trong nước cũng có cơ hội tham gia sản xuất các chi tiết cho tàu hoặc liên danh với nước ngoài chế tạo như ray, ghi, thiết bị thông tin tín hiệu; các chi tiết cơ khí, linh kiện điện tử sẽ do các tập đoàn cơ khí, điện tử, viễn thông thực hiện.

Để phát triển công nghiệp đường sắt, tiến tới tự chủ, ông Trần Thiện Cảnh, Cục trưởng Đường sắt Việt Nam, cho rằng vấn đề chuyển giao công nghệ phải đặt lên hàng đầu. Việt Nam cần có những tiêu chí, nguyên tắc ràng buộc trong quá trình đấu thầu lựa chọn nhà cung cấp. Trong đó, yêu cầu các đơn vị chuyển giao công nghệ phải xây dựng các nhà máy và liên doanh với các công ty tại Việt Nam.

Ông Hoàng Năng Khang đề xuất Nhà nước cần ban hành chính sách khuyến khích, ưu đãi, hỗ trợ doanh nghiệp, tập đoàn kinh tế lớn của đất nước tham gia đầu tư, nghiên cứu, sản xuất lĩnh vực cơ khí, phần mềm tự động hóa, trí tuệ nhân tạo và thông tin tín hiệu đường sắt.

Diệu Linh

Có thể bạn quan tâm

ASEAN trước bước ngoặt công nghệ: Từ trung tâm sản xuất đến trung tâm đổi mới sáng tạo toàn cầu

Sự phát triển bùng nổ của trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, kinh tế số và chuyển đổi xanh đang làm thay đổi sâu sắc cấu trúc kinh tế toàn cầu, đồng thời tái định nghĩa những yếu tố cốt lõi tạo nên sức mạnh cạnh tranh của mỗi quốc gia và khu vực. Trong bối cảnh đó, ASEAN không thể chỉ là bên tiếp nhận các xu hướng công nghệ mới mà cần chủ động tham gia định hình những chuẩn mực phát triển của thời đại.

Đề xuất đầu tư tuyến đường sắt TP.HCM – Cần Thơ hơn 171.000 tỷ đồng: Bước đột phá hạ tầng và công nghệ cho Đồng bằng sông Cửu Long

Ban Quản lý dự án Mỹ Thuận vừa báo cáo Bộ Xây dựng kết quả nghiên cứu tiền khả thi Dự án đầu tư tuyến đường sắt TP.HCM – Cần Thơ với tổng mức đầu tư sơ bộ hơn 171.000 tỷ đồng. Đây được xem là một trong những dự án hạ tầng giao thông quan trọng nhất khu vực phía Nam trong giai đoạn tới, không chỉ góp phần hoàn thiện mạng lưới giao thông quốc gia mà còn mở ra cơ hội phát triển mới cho Đồng bằng sông Cửu Long thông qua việc ứng dụng các công nghệ đường sắt hiện đại.

Vì một nền văn minh sinh thái, một Việt Nam xanh và một đại dương hòa bình, bền vững

Tạp chí Cơ khí Việt Nam trân trọng giới thiệu bài viết của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm với tiêu đề: "Vì một nền văn minh sinh thái, một Việt Nam xanh và một đại dương hòa bình, bền vững".

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm giao 6 nhiệm vụ trọng tâm cho Công đoàn Việt Nam

Đại hội XIV Công đoàn Việt Nam đánh dấu một giai đoạn phát triển mới của tổ chức đại diện cho giai cấp công nhân và người lao động cả nước. Phát biểu chỉ đạo tại Đại hội, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nhấn mạnh vai trò đặc biệt quan trọng của Công đoàn Việt Nam trong tiến trình phát triển đất nước, đồng thời giao 6 nhiệm vụ trọng tâm nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức công đoàn trong bối cảnh mới.

Công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục là động lực tăng trưởng của nền kinh tế

Bức tranh sản xuất công nghiệp Việt Nam trong 5 tháng đầu năm 2026 tiếp tục ghi nhận nhiều tín hiệu tích cực khi chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) tăng 9,1% so với cùng kỳ năm trước. Đây là mức tăng cao nhất của 5 tháng đầu năm trong vòng 4 năm trở lại đây, phản ánh đà phục hồi và mở rộng sản xuất mạnh mẽ của cộng đồng doanh nghiệp, đặc biệt là khu vực công nghiệp chế biến, chế tạo – động lực tăng trưởng chủ lực của nền kinh tế.
0904177637
  • Zalo
  • Messenger
  • Back to top