Đó cũng là nội dung trọng tâm được đặt ra tại Hội thảo về Phát triển công nghiệp vật liệu Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 do Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương tổ chức. Song song với đó, Bộ Công Thương cũng đã tổ chức cuộc họp lấy ý kiến về dự thảo đề cương Chiến lược phát triển công nghiệp vật liệu Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, bước chuẩn bị quan trọng nhằm xây dựng một chiến lược phát triển dài hạn cho ngành công nghiệp nền tảng này.

Ban Chính sách, chiến lược Trung ương tổ chức Hội thảo về Phát triển công nghiệp vật liệu Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
Theo đánh giá tại hội thảo, những năm gần đây, ngành công nghiệp vật liệu của Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả tích cực. Việt Nam hiện đứng đầu ASEAN về sản lượng thép thô, đồng thời là một trong những quốc gia có sản lượng xi măng và vật liệu xây dựng lớn trong khu vực. Nhiều lĩnh vực mới như vật liệu xanh, vật liệu tái chế, vật liệu bán dẫn, vật liệu phục vụ pin và lưu trữ năng lượng cũng bắt đầu được đầu tư nghiên cứu và phát triển.
Sự phát triển của ngành đã đóng góp quan trọng vào tăng trưởng GDP, thúc đẩy đầu tư hạ tầng, mở rộng xuất khẩu và tạo việc làm cho hàng triệu lao động. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, ngành công nghiệp vật liệu vẫn còn không ít hạn chế như phụ thuộc nhiều vào khai thác tài nguyên, tỷ lệ chế biến sâu còn thấp, công nghệ chưa đồng đều và năng lực tự chủ đối với nhiều loại vật liệu chiến lược còn hạn chế.
Công nghiệp vật liệu – nền tảng của nền công nghiệp hiện đại
Thông tin về dự thảo Chiến lược quốc gia phát triển công nghiệp vật liệu, ông Đỗ Nam Bình, Trưởng phòng Khoáng sản và Luyện kim, Cục Công nghiệp (Bộ Công Thương) cho biết, điểm mới của dự thảo đề cương không chỉ nằm ở các mục tiêu phát triển mà còn ở cách tiếp cận hoàn toàn khác so với trước đây.
"Tinh thần chung của dự thảo là chuyển từ lợi thế tài nguyên sang năng lực vật liệu; chuyển từ xuất khẩu nguyên liệu thô sang chế biến sâu; chuyển từ sản xuất đơn lẻ sang phát triển chuỗi giá trị; và chuyển từ phụ thuộc nhập khẩu sang từng bước tự chủ các vật liệu thiết yếu, vật liệu chiến lược", ông Đỗ Nam Bình nhấn mạnh.
Đây được xem là bước chuyển có ý nghĩa chiến lược trong bối cảnh cạnh tranh công nghệ và chuỗi cung ứng toàn cầu ngày càng gay gắt. Thay vì chỉ khai thác và xuất khẩu tài nguyên, Việt Nam sẽ hướng đến làm chủ công nghệ, gia tăng hàm lượng khoa học trong sản phẩm và nâng cao giá trị gia tăng ngay trong nước.
Tiếp cận theo chuỗi giá trị hoàn chỉnh
Một điểm đáng chú ý trong dự thảo đề cương là cách tiếp cận công nghiệp vật liệu theo chuỗi giá trị hoàn chỉnh thay vì chỉ giới hạn ở hoạt động sản xuất nguyên liệu.
Theo đó, ngành vật liệu sẽ được phát triển từ nguồn nguyên liệu, chế biến sâu, sản xuất vật liệu, chế tạo linh kiện, thiết bị, sản phẩm công nghiệp, mở rộng thị trường và cuối cùng là tái chế, hình thành nền kinh tế tuần hoàn.
Quan điểm này giúp gắn kết giữa khai thác tài nguyên với nghiên cứu, thiết kế, thử nghiệm, tiêu chuẩn hóa, thương mại hóa và tái chế, qua đó xây dựng năng lực vật liệu quốc gia một cách đồng bộ.
Đề cương cũng xác định rõ nguyên tắc phát triển có trọng tâm, tránh đầu tư dàn trải. Theo đó, các nhóm vật liệu được chia thành ba nhóm chính gồm vật liệu cơ bản cần tiếp tục nâng cấp; vật liệu chiến lược cần tập trung đột phá; và vật liệu tương lai cần chuẩn bị cho phát triển dài hạn.
Cách tiếp cận này vừa đáp ứng yêu cầu trước mắt của nền kinh tế, vừa tạo nền tảng để Việt Nam đón đầu các xu hướng công nghệ trong nhiều thập niên tới.
Đặc biệt, dự thảo nhấn mạnh việc chuyển mạnh từ khai thác tài nguyên sang làm chủ công nghệ chế biến sâu và nâng cao giá trị gia tăng trong nước. Việt Nam có nhiều lợi thế về khoáng sản, dầu khí, tài nguyên biển, sinh khối và nguồn nguyên liệu tái chế, nhưng nếu chỉ dừng ở khai thác hoặc xuất khẩu nguyên liệu thô thì sẽ rất khó hình thành một nền công nghiệp hiện đại và có sức cạnh tranh.
Làm chủ các chuỗi giá trị vật liệu chiến lược
Theo ông Đỗ Nam Bình, mục tiêu tổng quát của Chiến lược là hình thành năng lực vật liệu quốc gia thông qua việc chuyển hóa lợi thế tài nguyên thành năng lực công nghệ, năng lực chế biến sâu, năng lực sản xuất và năng lực cạnh tranh quốc gia.
Đến năm 2030, Việt Nam phấn đấu hình thành hệ thống công nghiệp vật liệu tương đối đồng bộ, có khả năng nghiên cứu, thiết kế, phát triển, sản xuất, cung ứng, tiêu chuẩn hóa, thương mại hóa và tái chế nhiều nhóm vật liệu quan trọng phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Xa hơn, đến năm 2045, ngành công nghiệp vật liệu Việt Nam hướng tới đạt trình độ tiên tiến trong khu vực ở một số lĩnh vực có lợi thế, làm chủ một số chuỗi giá trị vật liệu chiến lược, hình thành các doanh nghiệp vật liệu có năng lực cạnh tranh quốc tế và góp phần xây dựng nền công nghiệp quốc gia tự chủ, hiện đại, có sức chống chịu cao trước biến động toàn cầu.
Để hiện thực hóa mục tiêu này, dự thảo đề cương đề xuất xây dựng khung năng lực công nghiệp vật liệu quốc gia; hình thành hệ thống dự báo nhu cầu vật liệu; xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về vật liệu; xác định danh mục vật liệu ưu tiên và chuỗi giá trị ưu tiên; đồng thời phát triển hệ sinh thái nghiên cứu, thiết kế, thử nghiệm, tiêu chuẩn hóa, sản xuất và ứng dụng vật liệu.
Trong giai đoạn trước mắt, Chiến lược ưu tiên phát triển nhiều nhóm vật liệu có ý nghĩa chiến lược như vật liệu bán dẫn, vật liệu đất hiếm, vật liệu cho pin và lưu trữ năng lượng, vật liệu phục vụ công nghệ cao, quốc phòng, an ninh, năng lượng tái tạo và chuyển đổi số.
Bên cạnh đó là các chuỗi giá trị có lợi thế như đất hiếm - vật liệu từ; bô-xít - alumin - nhôm - hợp kim nhôm; titan - hợp kim titan; vật liệu pin; vật liệu bán dẫn; thép chất lượng cao; hóa chất - polymer - composite và vật liệu tái chế.
Hoàn thiện thể chế và xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo
Để đưa chiến lược vào thực tiễn, dự thảo đề cương đề xuất tám nhóm nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm.
Trước hết là hoàn thiện thể chế và cơ chế điều phối nhằm rà soát, sửa đổi các quy định liên quan đến khoáng sản, dầu khí, hóa chất, xây dựng, đầu tư, môi trường, tiêu chuẩn và đấu thầu, đồng thời xây dựng cơ chế đặc thù cho các chuỗi vật liệu chiến lược.
Tiếp theo là quản trị và bảo đảm nguồn nguyên liệu chiến lược thông qua điều tra, đánh giá tiềm năng tài nguyên, kiểm soát xuất khẩu nguyên liệu thô, gắn khai thác với chế biến sâu, mở rộng hợp tác quốc tế về nguyên liệu và phát triển kinh tế tuần hoàn.
Đề cương cũng xác định nhiệm vụ phát triển mạnh công nghiệp chế biến sâu khoáng sản, luyện kim, hóa dầu, polymer, composite, vật liệu tiên tiến; đồng thời thúc đẩy sản xuất thép xanh, xi măng phát thải thấp, kính chất lượng cao, bê tông đặc chủng và các loại vật liệu phục vụ công trình quy mô lớn.
Một trọng tâm khác là hình thành các chuỗi vật liệu chiến lược phục vụ các ngành động lực của nền kinh tế như chuỗi đất hiếm - nam châm - động cơ - robot; titan - hợp kim titan - hàng không - y sinh; graphite, nickel, lithium, cobalt - pin - lưu trữ năng lượng - xe điện; thép chất lượng cao phục vụ đường sắt, đóng tàu, điện gió ngoài khơi; vật liệu dẫn điện phục vụ lưới điện, trung tâm dữ liệu và trí tuệ nhân tạo.
Ngoài ra, Chiến lược còn hướng tới phát triển vật liệu phục vụ kinh tế biển, y sinh, dược phẩm, an ninh y tế; thúc đẩy ứng dụng khoa học công nghệ, dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo trong nghiên cứu vật liệu; đồng thời phát triển đội ngũ doanh nghiệp đủ năng lực dẫn dắt thị trường.



