Chính sách

Đưa công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm 30% GDP vào năm 2030

09/03/2023 00:03
3486 Lượt xem
TCCKVN Mục tiêu đến năm 2030, tốc độ tăng trưởng giá trị gia tăng công nghiệp đạt bình quân trên 8,5%/năm; Tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo trong GDP đạt khoảng 30% vào năm 2030; Đảm bảo cân đối cung cầu về năng lượng với tỷ lệ tiêu hao năng lượng tính trên đơn vị GDP giảm 1 - 1,5%/năm.

Tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo trong GDP đạt khoảng 30% vào năm 2030.

Phó Thủ tướng Chính phủ Trần Hồng Hà đã ký Quyết định 165/QĐ-TTg ngày 28/2/2023 phê duyệt Đề án tái cơ cấu ngành Công Thương giai đoạn đến năm 2030.

Đề án đặt mục tiêu tốc độ tăng trưởng giá trị gia tăng công nghiệp đạt bình quân trên 8,5%/năm; Tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo trong GDP đạt khoảng 30% vào năm 2030; Đảm bảo cân đối cung cầu về năng lượng với tỷ lệ tiêu hao năng lượng tính trên đơn vị GDP giảm 1 - 1,5%/năm.

Duy trì thặng dư cán cân thương mại với tốc độ tăng trưởng xuất khẩu luôn cao hơn nhập khẩu và tăng bình quân khoảng 6 - 8%/năm. Tốc độ tăng trưởng bình quân của tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng khoảng 13,0 - 13,5%/năm.

Đề án đề ra tái cơ cấu ngành công nghiệp, ngành năng lượng, lĩnh vực xuất nhập khẩu, tái cơ cấu thị trường trong nước, hội nhập kinh tế quốc tế. Trong đó, tái cơ cấu ngành công nghiệp kết hợp hài hòa giữa phát triển công nghiệp theo cả chiều rộng và chiều sâu, chú trọng phát triển theo chiều sâu, khai thác triệt để thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và lợi thế thương mại để tạo bước đột phá trong nâng cao năng suất, chất lượng, sức cạnh tranh, giá trị gia tăng nội địa của sản phẩm.

Phấn đấu tốc độ tăng năng suất lao động công nghiệp đạt bình quân 7,5%/năm, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng bình quân 8,5 - 9%/năm. Tập trung phát triển hoàn chỉnh hệ thống sản xuất công nghiệp trong nước thông qua việc nâng cấp và phát triển chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị của các ngành công nghiệp.

Tập trung phát triển hoàn chỉnh hệ thống sản xuất công nghiệp trong nước thông qua việc nâng cấp và phát triển chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị của các ngành công nghiệp. Chú trọng nội địa hoá chuỗi cung ứng các ngành công nghiệp để giảm phụ thuộc vào nhập khẩu máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu và tăng cường tính tự chủ, nâng cao giá trị gia tăng nội địa, sức cạnh tranh của sản phẩm và vị trí của doanh nghiệp Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu. Xanh hóa các ngành công nghiệp, đảm bảo sử dụng tiết kiệm và hiệu quả tài nguyên và năng lượng trong các ngành công nghiệp.

Chuyển dịch cơ cấu nội ngành công nghiệp từ các ngành thâm dụng tài nguyên, lao động sang các ngành thâm dụng vốn và công nghệ, các ngành công nghiệp xanh, công nghiệp các bon thấp; từ các công đoạn có giá trị gia tăng thấp lên các công đoạn có giá trị gia tăng cao trong chuỗi giá trị toàn cầu và khu vực. Phấn đấu đến năm 2030, tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo trong GDP khoảng 30% với tốc độ tăng trưởng bình quân khoảng 9 - 10%/năm; tỷ trọng giá trị sản phẩm công nghiệp công nghệ cao trong các ngành chế biến, chế tạo đạt trên 45%.

Trong đó, đối với các ngành công nghiệp công nghệ cao, ưu tiên phát triển công nghiệp chế tạo thông minh là bước đột phá nhằm hình thành năng lực sản xuất mới gắn liền với khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số để đi tắt, đón đầu trong phát triển một số ngành, sản phẩm, trong đó chú trọng phát triển sản phẩm công nghệ cao.

Tập trung phát triển các sản phẩm công nghiệp quốc gia dựa vào công nghệ mới, công nghệ cao và các ngành kinh tế sáng tạo, trong đó chú trọng phát triển sản phẩm công nghệ cao, trọng tâm "Make in Viet Nam", sáng tạo tại Việt Nam, thiết kế tại Việt Nam, tích hợp thành sản phẩm thương mại tại Việt Nam.

Đối với công nghiệp hỗ trợ đẩy mạnh phát triển công nghiệp hỗ trợ nhằm phục vụ các ngành công nghiệp xuất khẩu lớn như: điện tử, ô tô, dệt may, da giày, cơ khí, công nghệ cao… và tăng cường khả năng đáp ứng các quy tắc về nguồn gốc xuất xứ trong các hiệp định thương mại tự do (FTA). Phấn đấu đến năm 2030, công nghiệp hỗ trợ đáp ứng 70% nhu cầu sản xuất trong nước.Tăng cường làm chủ công nghệ cốt lõi, tạo dựng thương hiệu Việt Nam, sử dụng công nghệ Việt Nam và gắn kết hiệu quả với mạng lưới chuyên gia, trí thức Việt Nam ở nước ngoài....

Về tái cơ cấu lĩnh vực xuất nhập khẩu, tập trung ưu tiên phát triển xuất khẩu các mặt hàng có quy mô xuất khẩu lớn, lợi thế cạnh tranh cao (điện tử, dệt may, da giày, nông sản, đồ gỗ...) gắn với đa dạng hóa và nâng cao chất lượng sản phẩm xuất khẩu.

Gia tăng tỷ trọng xuất khẩu hàng hóa có hàm lượng chế biến sâu, công nghệ cao, có giá trị gia tăng cao, tỷ lệ nội địa hoá lớn, đáp ứng tiêu chuẩn cao về chất lượng và phát triển bền vững của các thị trường, giảm dần xuất khẩu đối với khoáng sản quan trọng kể cả dưới dạng tinh quặng.

Đối với nhóm hàng công nghiệp chế biến, chế tạo: Tiếp tục mở rộng xuất khẩu để khai thác có hiệu quả tiềm năng thị trường gắn với chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu theo hướng các sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao, có tỷ lệ nội địa hoá lớn và đáp ứng tiêu chuẩn cao về tiêu chuẩn chất lượng và phát triển bền vững của các thị trường. Nâng cao thị phần xuất khẩu của các doanh nghiệp trong nước. Phấn đấu đến năm 2030, tỷ trọng xuất khẩu hàng hóa công nghiệp chế biến chế tạo lên khoảng 90%, trong đó tỷ trọng xuất khẩu hàng hóa công nghệ trung bình và cao tăng lên khoảng 70%.

Ngân Giang

Có thể bạn quan tâm

Đài Loan (Trung Quốc) khởi xướng điều tra chống bán phá giá đối với thép không gỉ cán nguội nhập khẩu từ Việt Nam

Cục Phòng vệ thương mại (Bộ Công Thương) vừa nhận được thông tin từ Thương vụ Văn phòng Kinh tế - Văn hóa Việt Nam tại Đài Bắc cho biết, ngày 14/8/2026, Cơ quan quản lý Tài chính Đài Loan (MOF) đã chính thức khởi xướng điều tra chống bán phá giá đối với một số sản phẩm thép không gỉ cán nguội dạng phẳng nhập khẩu từ Việt Nam.

Đến năm 2030, 100% cao tốc đang khai thác sẽ kết nối dữ liệu với ITS Core

Bộ Xây dựng đặt mục tiêu đến năm 2030, 100% các tuyến cao tốc đang khai thác sẽ hoàn thành kết nối dữ liệu với Nền tảng quản lý hệ thống giao thông thông minh đường bộ (ITS Core), hướng tới hình thành nền tảng số cốt lõi phục vụ quản lý, điều phối giao thông trên toàn mạng lưới cao tốc.

Tập đoàn Đường sắt Quốc gia Việt Nam: Cần cơ chế đặc thù để đảm đương các dự án lớn

Việc Tập đoàn Đường sắt Quốc gia Việt Nam chính thức được đăng ký thành lập là kết quả của một lộ trình tái cơ cấu được triển khai từng bước, tạo tiền đề để doanh nghiệp nhà nước nòng cốt của ngành đường sắt nâng cao năng lực và tham gia các dự án quy mô lớn trong giai đoạn tới. Cùng với quá trình chuyển đổi mô hình, việc hoàn thiện cơ chế hoạt động và quản lý tài chính đặc thù được xem là yêu cầu quan trọng để Tập đoàn phát huy vai trò trung tâm trong phát triển công nghiệp đường sắt.

Loạt quy chuẩn mới hướng tới chuẩn hóa trụ, trạm sạc xe điện

Bộ Công Thương đang lấy ý kiến dự thảo Thông tư ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia (QCVN) về trụ sạc, trạm sạc xe điện, với nhiều yêu cầu mới về an toàn điện, phòng cháy chữa cháy, đo lường, đấu nối, dữ liệu và vận hành. Đây được xem là bước đi cần thiết nhằm chuẩn hóa hạ tầng sạc trong bối cảnh phương tiện điện và thị trường thiết bị sạc tại Việt Nam tăng trưởng nhanh.

Ban hành Quy chế mới về tổ chức, hoạt động Ban Chỉ đạo quốc gia phát triển công nghiệp bán dẫn

Trưởng Ban Chỉ đạo quốc gia về phát triển ngành công nghiệp bán dẫn đã ký Quyết định số 93/QĐ-BCĐPTCNBD ngày 31/7/2026 ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của Ban Chỉ đạo, thay thế quy chế được ban hành cuối năm 2025.
0982254465
  • Zalo
  • Messenger
  • Back to top