Sự kiện - Vấn đề

Áp lực phải đủ than cho sản xuất điện đối với TKV

19/05/2023 00:05
1866 Lượt xem
TCCKVN Để chuẩn bị đủ nguồn than cung cấp cho các nhà máy nhiệt điện, Tập đoàn công nghiệp Than-Khoáng sản Việt Nam (TKV) đã tiến hành đàm phán với các nhà máy nhiệt điện từ tháng 10/2022 và xây dựng kế hoạch tiêu thụ than năm 2023 là 46,5 triệu tấn. Trong đó, than cung cấp cho các nhà máy nhiệt điện là 38,52 triệu tấn (bằng 83%). Tuy nhiên, với tiến độ huy động của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), tổng khối lượng than cung cấp cho các nhà máy nhiệt điện năm 2023 của TKV sẽ vượt khoảng 6% so với kế hoạch.

Đủ than, đúng tiến độ

Thông tin từ TKV cho biết, việc cung cấp than cho các nhà máy nhiệt điện trong 4 tháng đầu năm 2023 của Tập đoàn đạt và vượt tiến độ, với tổng khối lượng than giao cho các nhà máy đạt 13,527 triệu tấn, tương đương 35% so với khối lượng hợp đồng. 

"Lượng than TKV cung cấp cho các nhà máy này về cơ bản đạt tiến độ. Đáng nói, TKV cũng cung cấp than cho một số nhà máy nhiệt điện đã vượt tiến độ hợp đồng như một số nhà máy nhiệt điện BOT huy động lượng than cao (4,838 triệu tấn, bằng 43,2% kế hoạch cả năm 11,2 triệu tấn)", đại diện TKV thông tin.

Xuất than - ảnh TKV

Về than nhập khẩu, TKV cho biết, sau khi ký hợp đồng cung cấp than năm 2023, TKV đã chủ động lập kế hoạch nhập khẩu than về pha trộn từ cuối năm 2022. Quý I/2023, TKV đã nhập khẩu khoảng 2,1 triệu tấn; quý II/2023 đang tiến hành nhập khẩu với kế hoạch khoảng 2,6 triệu tấn.

Bảo đảm đủ than cho các nhà máy đã có hợp đồng 

Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Bộ trưởng Bộ Công Thương tại cuộc họp ngày 13/5/2023 cũng như tinh thần thống nhất trong buổi làm việc giữa lãnh đạo hai Tập đoàn TKV- EVN ngày 9/5 về việc cân đối khối lượng than cung cấp tăng cho các nhà máy nhiệt điện của EVN trong các tháng mùa khô 5-6-7/2023, TKV ngay lập tức triển khai và cấp bổ sung 300.000 tấn cho các nhà máy nhiệt điện của EVN trong nửa cuối tháng 5/2023.

Các tháng 6-7/2023, TKV cho biết sẽ tăng khối lượng cấp cho các nhà máy nhiệt điện khoảng 180.000 tấn/tháng, trong đó các nhà máy của EVN khoảng 80.000 tấn/tháng, tăng 6% so với tiến độ cam kết trong hợp đồng.

"TKV sẽ cung cấp đủ than vận hành trong mùa khô cho các nhà máy nhiệt điện mà TKV có hợp đồng", đại diện TKV khẳng định.

Dự kiến cả năm 2023, TKV sẽ cung cấp đủ khối lượng hợp đồng đã ký với các nhà máy nhiệt điện. 

Riêng các nhà máy nhiệt điện BOT với tiến độ huy động của EVN, khả năng TKV phải cấp tăng khoảng 2.000.000 tấn. 

Như vậy, tổng khối lượng than cung cấp cho các nhà máy nhiệt điện năm 2023 của TKV sẽ vượt khoảng 6% so với kế hoạch năm 2023.

Với tình hình sản xuất than hiện tại và nhu cầu của các nhà máy nhiệt điện tăng cao trong khi khả năng sản xuất của TKV chưa tăng được do chưa được phép khai thác vượt dưới 15% và Giấy phép khai thác cho một số dự án chưa được cấp mới, TKV cho biết: Nếu không được tháo gỡ, giải quyết kịp thời thì năm 2023 than nguyên khai khai thác sẽ giảm khoảng 3 triệu tấn so với kế hoạch đầu năm, tương ứng giảm khoảng 2-3 triệu tấn than pha trộn nhập khẩu cấp cho sản xuất điện. 

Cảng than Cẩm Phả - ảnh TKV

Giảm áp lực cho sản xuất than trong nước

Tập đoàn công nghiệp Than-Khoáng sản cũng đề nghị Bộ Công Thương chỉ đạo EVN đưa ra giải pháp phù hợp trong điều độ hệ thống điện quốc gia, điều tiết hợp lý việc huy động sản lượng điện từ các nhà máy nhiệt điện BOT để giảm áp lực cho TKV có than trong nước để pha trộn với than nhập khẩu.

TKV đề nghị Bộ Công Thương ủng hộ chủ trương và báo cáo Chính phủ để các nhà máy BOT sử dụng than pha trộn nhập khẩu giảm áp lực cho sản xuất than trong nước của TKV.

Trong giai đoạn khó khăn về huy động nguồn điện, TKV đề nghị Bộ Công Thương chỉ đạo EVN huy động tất cả các nguồn điện (năng lượng tái tạo, các nhà máy nhiệt điện dùng than nhập khẩu,...) để không dồn áp lực cho một nhà cung cấp than là TKV.

Được biết, để chuẩn bị đủ nguồn than cung cấp cho các nhà máy nhiệt điện, TKV đã tiến hành đàm phán với các nhà máy nhiệt điện từ tháng 10/2022 và xây dựng kế hoạch tiêu thụ than năm 2023 là 46,5 triệu tấn. Trong đó, than cung cấp cho các nhà máy nhiệt điện là 38,52 triệu tấn (bằng 83%).

Ngoài than trong nước bắt buộc phải cung cấp cho các dự án BOT; than đặc thù các vùng của Việt Bắc, Nông Sơn, than chất lượng thấp cấp cho các nhà máy nhiệt điện thuộc TKV, than trong nước cấp cho chạy thử Tổ máy 2 Nhà máy nhiệt điện Thái Bình 2 và than trong nước cấp cho Nhà máy nhiệt điện Phả Lại để duy trì tuyến đường sắt Mạo Khê - Phả Lại, còn lại là cung cấp than pha trộn nhập khẩu cho các nhà máy nhiệt điện.

Trong năm 2023, TKV sẽ cung cấp thêm chủng loại pha trộn nhập khẩu than cám 5a.14, 5b.14, 6a.14 có chỉ tiêu chất bốc khô tối đa 12% phù hợp với công nghệ của một số nhà máy nhiệt điện mới bảo đảm cung cấp đủ than cho các nhà máy vận hành.

Ngọc Mi

Có thể bạn quan tâm

Phát triển cơ khí Việt Nam giai đoạn 2026 đến 2045 gắn với nâng cao giá trị tăng thêm

Giai đoạn 2026–2045, cơ khí Việt Nam cần đồng thời mở rộng sản xuất và nâng giá trị tăng thêm thông qua năng lực thiết kế, chế tạo, tích hợp hệ thống. Bằng phân tích cơ cấu ngành, kịch bản tăng trưởng và độ nhạy, bài báo làm rõ khoảng cách năng lực và yêu cầu chuyển đổi chất lượng tăng trưởng. Trên cơ sở đó, đề xuất tổ chức hỗ trợ theo dự án và đơn hàng; gắn chuyển giao công nghệ với quyền sử dụng, sửa đổi thiết kế; phát triển nhà cung ứng theo yêu cầu bên mua; phân bổ nguồn lực và đánh giá theo năng lực thực tế. Kết quả tính toán minh họa vai trò của việc nâng tỷ trọng giá trị tăng thêm, làm cơ sở lựa chọn chính sách phát triển ngành.

Chiến lược phát triển ngành cơ khí Việt Nam: Những kết quả đạt được và yêu cầu chuyển đổi chiều sâu

Sau hơn bảy năm triển khai Quyết định số 319/QĐ-TTg ngày 15/3/2018 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển ngành cơ khí Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2035, ngành cơ khí đã có những bước phát triển đáng ghi nhận về quy mô sản xuất, chủng loại sản phẩm và năng lực chế tạo. Tuy nhiên, để thực sự trở thành ngành công nghiệp nền tảng, có khả năng tự chủ công nghệ và tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu, cơ khí Việt Nam vẫn cần vượt qua những điểm nghẽn mang tính cơ cấu.

Xây dựng Chiến lược phát triển ngành Cơ khí Việt Nam đến năm 2035: Từ mở rộng quy mô đến làm chủ công nghệ

Ngành Cơ khí Việt Nam đang đứng trước cơ hội lớn từ làn sóng đầu tư vào năng lượng, đường sắt, khai khoáng và công nghiệp chế biến, chế tạo. Tuy nhiên, để biến tiềm năng thị trường thành năng lực sản xuất thực chất, chiến lược phát triển giai đoạn 2026–2045 cần tập trung vào làm chủ công nghệ, nâng cao năng lực doanh nghiệp nội địa và tạo cơ chế để doanh nghiệp Việt tham gia sâu hơn vào các dự án công nghiệp trọng điểm.

Hội nghị Khoa học và Công nghệ Cơ khí - Động lực lần thứ XIX: Thúc đẩy nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và kết nối thực tiễn

Ngày 18/10/2026, tại Trường Đại học Thủy lợi (Hà Nội), Hội nghị Khoa học và Công nghệ Cơ khí - Động lực lần thứ XIX năm 2026 đã diễn ra, quy tụ đông đảo các nhà khoa học, chuyên gia, giảng viên, đại diện cơ sở đào tạo, viện nghiên cứu và doanh nghiệp. Hội nghị tiếp tục khẳng định vai trò là diễn đàn học thuật quan trọng, góp phần thúc đẩy nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo và tăng cường kết nối giữa đào tạo, nghiên cứu với thực tiễn sản xuất.

Thương hiệu quốc gia Việt Nam: Từ khẳng định chất lượng đến nâng tầm vị thế

Tối 16/10/2026, tại Hà Nội, Hội đồng Thương hiệu quốc gia Việt Nam và Bộ Công Thương tổ chức Lễ Công bố sản phẩm đạt Thương hiệu quốc gia Việt Nam lần thứ 10 năm 2026, với chủ đề “Dòng chảy Thương hiệu Việt”.
0982254465
  • Zalo
  • Messenger
  • Back to top