1. Đặt vấn đề
Nhu cầu thiết bị trong năng lượng, giao thông và chế biến khoáng sản mở ra thị trường lớn cho cơ khí Việt Nam. Tuy nhiên, tham gia chế tạo, lắp đặt chưa đồng nghĩa với làm chủ thiết kế tổng thể, thiết bị công nghệ và điều khiển. Chính sách phát triển ngành vì vậy cần gắn mở rộng sản xuất với nâng năng lực công nghệ và phần giá trị tạo ra trong nước.
Năm 2025, khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) chiếm khoảng 61,6% giá trị sản xuất và khoảng 93% giá trị xuất khẩu của nhóm hàng cơ khí được thống kê. Cơ cấu này phản ánh vai trò lớn của FDI trong mở rộng sản xuất, đồng thời đặt ra vấn đề về sức phát triển của doanh nghiệp trong nước và mức độ liên kết giữa hai khu vực. Tăng sản lượng, xuất khẩu chỉ chuyển thành nền tảng công nghiệp vững chắc khi đi kèm khả năng thiết kế sản phẩm, tổ chức cung ứng và giữ lại giá trị tại Việt Nam.
Bài báo phân tích nền xuất phát, kịch bản tăng trưởng và yêu cầu nâng giá trị tăng thêm; từ đó đề xuất cơ chế phát triển năng lực, phân bổ nguồn lực và kiểm chứng kết quả thực hiện. Trọng tâm là chuyển nhu cầu thị trường thành năng lực thiết kế, chế tạo, tích hợp và cung ứng của ngành cơ khí Việt Nam.
TS. Phan Đăng Phong - Viện trưởng Viện Nghiên cứu Cơ khí (NARIME) phát biểu tại Hội thảo Xây dựng Chiến lược phát triển ngành cơ khí Việt Nam đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2045.
2. Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng dữ liệu tổng hợp về sản xuất, xuất khẩu, cơ cấu sở hữu và năng lực cơ khí, kết hợp các chỉ tiêu định hướng đến năm 2035 và 2045. Phân tích tập trung vào quan hệ giữa quy mô sản xuất, tỷ trọng giá trị tăng thêm và năng lực công nghệ. Các chỉ tiêu khác phạm vi hoặc thời kỳ được phân biệt khi so sánh.
Các kịch bản lấy năm 2025 làm nền, xét ba mốc 2030, 2035 và 2045. Khoảng cách giữa hiện trạng và mục tiêu được dùng để xác định yêu cầu về công nghệ, tổ chức sản xuất và nguồn lực; chưa phải bằng chứng về khả năng đạt mục tiêu.
Nghiên cứu gồm ba bước: phân tích cơ cấu và điểm nghẽn; tính kịch bản giá trị sản xuất và độ nhạy của giá trị tăng thêm; đề xuất cơ chế hỗ trợ dựa trên quan hệ giữa đơn hàng, công nghệ, thử nghiệm, nhân lực và nhà cung ứng. Bài báo không khảo sát doanh nghiệp mới hoặc ước lượng tác động sau can thiệp.
Giá trị sản xuất được ký hiệu GO và tính theo GOₜ = GO₂₀₂₅ × (1 + g)ⁿ; trong đó GO₂₀₂₅ = 3.225,5 nghìn tỷ đồng, g lần lượt bằng 6,5%, 10% và 12%/năm, n bằng 5, 10 và 20. Đây là phép chiếu danh nghĩa với tốc độ cố định. Chỉ tiêu giá trị tăng thêm được ký hiệu VA và minh họa bằng VAₜ = GOₜ × αₜ, với αₜ là tỷ trọng VA/GO giả định tại năm đích. Phép tính độ nhạy sử dụng ΔVAₜ = GOₜ × Δαₜ. Kết quả được làm tròn một chữ số thập phân.
Cần phân biệt ba chỉ tiêu: tỷ lệ nội địa hóa phản ánh phần giá trị trong nước theo phương pháp xác định nguồn gốc; VA/GO là tỷ số giữa giá trị tăng thêm và giá trị sản xuất trong cùng phạm vi thống kê; mức tự chủ thiết kế, chế tạo phản ánh năng lực kỹ thuật và quyền sử dụng, sửa đổi công nghệ. VA bằng GO trừ chi phí trung gian, không đồng nhất với lợi nhuận. Mua linh kiện tại Việt Nam chưa đủ chứng minh nguồn gốc giá trị trong nước.
Các mức VA/GO khoảng 21%, nội địa hóa khoảng 32% và tự chủ thiết kế, chế tạo khoảng 45% phản ánh giai đoạn 2021–2025. Vì khác thời kỳ thống kê với GO năm 2025, các tỷ lệ này được sử dụng làm mức tham chiếu để phân tích chuyển dịch cơ cấu, không dùng để xác lập giá trị tăng thêm chính thức của riêng năm nền. Tương tự, khi phân tích thương mại, cần đối chiếu danh mục hàng hóa xuất khẩu với phạm vi ngành sản xuất để tránh suy rộng kết quả từ những tập hợp không tương thích.
3. Nền xuất phát và yêu cầu chuyển đổi chất lượng tăng trưởng
Bảng 1: Các bằng chứng định lượng về nền xuất phát

Ghi chú: GO và xuất khẩu là số liệu năm 2025, số liệu 2025 theo [2,3].
Theo tỷ trọng đã làm tròn, GO ngoài khu vực FDI khoảng 1.238,6 nghìn tỷ đồng, tương đương 38,4%; xuất khẩu ngoài FDI của nhóm hàng thống kê khoảng 109,0 nghìn tỷ đồng. Đây là cơ cấu theo sở hữu, không phải giá trị tăng thêm trong nước: doanh nghiệp FDI có thể tạo giá trị tại Việt Nam, còn doanh nghiệp trong nước vẫn sử dụng đầu vào nhập khẩu.
Mức đáp ứng nhu cầu phân hóa rõ: xe máy và linh kiện khoảng 85–90%; máy nông nghiệp và máy động lực 40–60%; thiết bị đồng bộ 20%; linh kiện kim loại cho công nghệ cao 10%. Chưa đủ cơ sở tính bình quân toàn ngành từ các tỷ lệ này. Chính sách cần phù hợp từng phân ngành: nâng chất lượng và công nghệ ở lĩnh vực đã có quy mô; phát triển thiết kế, tích hợp, thử nghiệm và công trình tham chiếu ở hệ thống phức tạp.
Nếu thống nhất phương pháp đo, mục tiêu nội địa hóa 40% và VA/GO 30% năm 2035 cao hơn mức tham chiếu lần lượt 8 và 9 điểm phần trăm; đến 2045, khoảng cách tương ứng là 28 và 24 điểm phần trăm. Đạt các mức này đòi hỏi chuyển dịch công đoạn và cơ cấu sản phẩm, vượt ra ngoài mở rộng công suất gia công.
Thiếu đơn hàng hạn chế đầu tư; thiếu công trình tham chiếu và thử nghiệm cản trở thương mại hóa. Vì vậy, hỗ trợ thiết bị, nghiên cứu và đào tạo cần gắn với yêu cầu bên mua, năng lực cung ứng và khả năng có hợp đồng tiếp theo.
4. Kịch bản quy mô và độ nhạy của giá trị tăng thêm
Bảng 2: Giá trị sản xuất theo ba kịch bản tăng trưởng danh nghĩa

Ghi chú: Đơn vị tính là nghìn tỷ đồng tại năm đích. Kết quả tính theo tăng trưởng lũy kế, lấy năm 2025 làm nền.
So với kịch bản 6,5%, kịch bản 10% cho GO cao hơn khoảng 775,5 nghìn tỷ đồng năm 2030, 2.311,4 nghìn tỷ đồng năm 2035 và 10.334,1 nghìn tỷ đồng năm 2045, tương ứng 17,5%, 38,2% và 90,9%. Khoảng cách phản ánh độ nhạy với tốc độ tăng trưởng, không phải lợi ích riêng của chiến lược vì kịch bản 6,5% chưa phải đối chứng không có chính sách.
Bảng 3: Giá trị tăng thêm minh họa trong kịch bản GO tăng 10% mỗi năm

Ghi chú: đơn vị tính là nghìn tỷ đồng tại năm đích. VA được tính bằng GO nhân với hệ số VA/GO giả định.
Năm 2035, với GO 8.366,1 nghìn tỷ đồng, nâng VA/GO từ 25% lên 30% làm VA minh họa tăng 418,3 nghìn tỷ đồng, tương đương 20%. Kết quả cho thấy ý nghĩa của việc nâng giá trị tăng thêm tại cùng quy mô sản xuất. Tuy nhiên, để xác định đóng góp của công nghệ và tổ chức sản xuất, cần tách ảnh hưởng của giá và cơ cấu sản phẩm bằng dữ liệu theo giá so sánh, phân ngành và công đoạn.
Đến 2045, mỗi điểm phần trăm VA/GO trong kịch bản 10% tương ứng khoảng 217,0 nghìn tỷ đồng VA danh nghĩa. Đây là phép chiếu theo giả định, không phải dự báo chắc chắn. Bảng 2 và 3 thể hiện giá trị từng năm đích, không phải lũy kế. Không cộng GO, VA, xuất khẩu và thay thế nhập khẩu thành tổng lợi ích vì có thể tính trùng.
5. Cơ chế hỗ trợ theo chuỗi và năng lực công nghệ
Hỗ trợ cần tập trung vào phần việc có khách hàng và khả năng triển khai. Dự án mẫu phải tạo năng lực dùng lại ở công trình tiếp theo: quyền sử dụng hồ sơ, tính toán và sửa đổi thiết kế, chế tạo, thử nghiệm, tích hợp và bảo hành. Nghiệm thu vì vậy phải đánh giá cả sản phẩm và năng lực tiếp nhận công nghệ.
Bảng 4: Định hướng can thiệp và bằng chứng ở ba chuỗi ưu tiên

Ghi chú: Các nội dung trong bảng là yêu cầu hình thành và đánh giá năng lực của từng chuỗi ưu tiên.
Với đường sắt, năng lực tích hợp phải được chứng minh bằng sự đồng bộ và an toàn của toàn hệ thống. Với điện gió ngoài khơi, chế tạo phải gắn với thiết kế, chứng nhận và tiến độ dự án. Với alumin và điện phân nhôm, cần tách đóng góp của cơ khí khỏi hiệu quả toàn tổ hợp, vốn còn phụ thuộc công nghệ quá trình, năng lượng và vận hành.
Phát triển nhà cung ứng cần đi từ nhu cầu cụ thể, đánh giá khoảng cách năng lực, cải tiến và thử mẫu đến phê duyệt của bên mua, ký hợp đồng và theo dõi chất lượng. Chứng nhận quản lý không thay thế kiểm chứng sản phẩm. Doanh nghiệp dẫn dắt phải đảm nhận trách nhiệm kỹ thuật hệ thống, quản lý cấu hình và phát triển mạng lưới cung ứng.
Hạ tầng thử nghiệm dùng chung cần xuất phát từ nhu cầu và phép thử còn thiếu; so sánh xây mới với nâng cấp, liên kết hoặc thuê dịch vụ. Hiệu quả vận hành được đo bằng khách hàng độc lập, mức sử dụng, thời gian trả kết quả và phạm vi được chấp nhận. Đào tạo cần đánh giá số người đạt chuẩn và làm đúng việc sau 6–12 tháng, thay vì chỉ đếm lượt học hoặc thiết bị đã mua.
6. Lộ trình mục tiêu và tính khả thi về nguồn lực
Bảng 5: Các mốc mục tiêu sử dụng trong giả thiết nghiên cứu

Ghi chú: Các trị số là mục tiêu dùng để phân tích kịch bản. Chỉ tiêu số đơn vị được hỗ trợ khác với số đơn vị đủ năng lực tham gia chuỗi.
Đến 2030, ưu tiên chuẩn hóa dữ liệu và triển khai tối thiểu 5 dự án mẫu, xác định rõ doanh nghiệp tiếp nhận, công nghệ chuyển giao và tiêu chí làm chủ. Đến 2035, tập trung vào đơn hàng lặp lại, năng lực hệ thống và mạng lưới cung ứng nhiều cấp. Đến 2045, đánh giá kết quả qua khả năng phát triển sản phẩm, cải tiến công nghệ và cạnh tranh khi hỗ trợ giảm dần.
Đến 2035, đội ngũ cần đạt 20.000–25.000 kỹ sư, chuyên gia và 150.000–200.000 lao động kỹ thuật; đây không phải số việc làm tạo mới. Ưu tiên thiết kế, tích hợp, điều khiển, công nghệ chế tạo và thử nghiệm. Đồng thời, phân biệt mục tiêu hỗ trợ tối thiểu 300 doanh nghiệp năm 2030 với khoảng 500 đơn vị đủ năng lực tham gia chuỗi năm 2035.
Nguồn lực dự kiến khoảng 918,5 nghìn tỷ đồng: doanh nghiệp thu xếp 886,1 nghìn tỷ đồng (96,5%); ngân sách nhà nước và tài trợ quốc tế, nếu có, khoảng 32,4 nghìn tỷ đồng (3,5%). Khả năng thực hiện phụ thuộc chủ yếu vào đầu tư của doanh nghiệp, đòi hỏi đơn hàng, dòng tiền và vốn dài hạn. Các trị số này chưa phải vốn cam kết hoặc giải ngân, cũng không đại diện toàn bộ thị trường cơ khí trong nước.
Phân bổ vốn cần tách chi phí công trình, thiết bị cơ khí, làm chủ công nghệ, hạ tầng dùng chung và vận hành để tránh tính trùng hoặc bỏ sót. Hỗ trợ nên phân kỳ theo đơn hàng và mốc năng lực, ưu tiên tài sản và kỹ năng dùng được cho nhiều dự án; đồng thời xác định tiến độ huy động và chi phí trên từng kết quả.

Phát triển cơ khí Việt Nam giai đoạn 2026–2045 cần gắn tăng quy mô sản xuất với nâng giá trị tăng thêm và năng lực tự chủ công nghệ.
7. Khung kiểm chứng tác động và điều chỉnh hỗ trợ
Đánh giá cần được thiết kế trước giải ngân. Mỗi doanh nghiệp, dự án và khoản hỗ trợ phải có mã định danh liên kết, ghi nhận năng lực ban đầu, công cụ hỗ trợ, vốn đối ứng và kết quả cam kết. Đường cơ sở phải thống nhất mã ngành, danh mục sản phẩm và đơn vị thống kê; doanh nghiệp tham gia nhiều chuỗi chỉ tính một lần trong tổng số toàn ngành.
Theo dõi bốn nhóm: đầu ra nghiên cứu, thử nghiệm và đào tạo; kết quả thương mại, chất lượng và năng suất; năng lực sử dụng, sửa đổi và tái sử dụng công nghệ; tác động đến VA theo giá so sánh, việc làm ròng và chi phí vòng đời. Cách tiếp cận này giúp phân biệt hoàn thành hoạt động với nâng năng lực thực tế.
Khi có dữ liệu phù hợp, có thể ước tính tác động bằng chênh lệch kép: τ = (Y được hỗ trợ sau − Y được hỗ trợ trước) − (Y đối chứng sau − Y đối chứng trước). Y có thể là VA trên lao động, tỷ lệ lỗi hoặc doanh thu sản phẩm được hỗ trợ. Nhóm đối chứng phải tương đồng về phân ngành, quy mô, sở hữu và xu hướng trước can thiệp; cần kiểm tra tác động lan tỏa và chính sách đồng thời. Bài báo đề xuất phương pháp, chưa thực hiện ước lượng.
Ví dụ giả định: năng suất nhóm được hỗ trợ tăng từ 100 lên 120, nhóm đối chứng tăng từ 100 lên 112; chênh lệch kép là 8 điểm chỉ số. Chưa thể quy toàn bộ 20 điểm, hoặc mặc nhiên quy 8 điểm, cho chính sách khi chưa kiểm tra các điều kiện nhận diện tác động.
Đánh giá chi phí phải phân biệt góc nhìn ngân sách, doanh nghiệp và xã hội; khoản tài trợ không tự tạo lợi ích ròng cho toàn xã hội. Khi thiếu dữ liệu tính lợi ích ròng, có thể so sánh chi phí trên một nhà cung ứng duy trì hợp đồng, một năng lực thiết kế được sử dụng lại hoặc một người đạt chuẩn và làm đúng việc, với cùng phạm vi chi phí và kỳ theo dõi.
Mở rộng hỗ trợ khi năng lực được kiểm chứng và có đơn hàng tiếp theo; điều chỉnh khi nhu cầu rõ nhưng vướng vốn, thử nghiệm hoặc thủ tục; thu hẹp khi công suất ít sử dụng, chi phí cao hoặc thiếu triển vọng thị trường. Cần theo dõi cả doanh nghiệp ngừng hoạt động. Chương trình lớn cần đánh giá độc lập và công bố kết quả cùng giới hạn phương pháp.
8. Định hướng phát triển và kết luận
Phát triển cơ khí Việt Nam giai đoạn 2026–2045 cần gắn tăng quy mô sản xuất với nâng giá trị tăng thêm và năng lực tự chủ công nghệ. Cơ cấu sản xuất còn phụ thuộc lớn vào FDI, trong khi mức đáp ứng nhu cầu giữa các phân ngành chênh lệch rõ. Vì vậy, tăng trưởng sản lượng và xuất khẩu cần đi cùng năng lực thiết kế, chế tạo, tích hợp và phát triển nhà cung ứng trong nước.
Phân tích kịch bản cho thấy, với GO tăng danh nghĩa 10%/năm, quy mô năm 2035 đạt khoảng 8.366,1 nghìn tỷ đồng; nâng VA/GO từ 25% lên 30% tương ứng tăng khoảng 418,3 nghìn tỷ đồng VA tại cùng quy mô. Kết quả minh họa ý nghĩa kinh tế của nâng chất lượng tăng trưởng, nhưng chưa lượng hóa tác động ròng của chính sách hoặc chi phí để đạt mục tiêu.
Định hướng ưu tiên là dùng nhu cầu đầu tư các lĩnh vực công nghiệp có dung lượng thị trường lớn như đường sắt, điện gió ngoài khơi, alumin và điện phân nhôm để hình thành năng lực cơ khí có thể phát triển qua nhiều dự án. Dự án mẫu cần có khách hàng, doanh nghiệp tiếp nhận và lộ trình chuyển giao rõ ràng; hợp đồng phải quy định quyền sử dụng, sửa đổi thiết kế và trách nhiệm tích hợp. Phát triển nhà cung ứng phải gắn với phê duyệt sản phẩm và đơn hàng thực tế, phù hợp khoảng cách năng lực từng phân ngành.
Nguồn lực cần tập trung cho thiết kế, tích hợp, thử nghiệm, nhân lực kỹ thuật và hạ tầng dùng chung có nhu cầu sử dụng. Với khoảng 96,5% vốn dự kiến do doanh nghiệp thu xếp, chính sách cần tạo điều kiện hình thành đơn hàng và tiếp cận vốn dài hạn; phần hỗ trợ công nên ưu tiên khâu có tác dụng lan tỏa, giải ngân theo mốc năng lực. Lộ trình đến 2030 tập trung chứng minh năng lực, đến 2035 mở rộng đơn hàng và mạng lưới cung ứng, đến 2045 nâng khả năng phát triển sản phẩm và cạnh tranh.
Thước đo cuối cùng là năng lực công nghệ được sử dụng lại, hợp đồng tiếp theo và giá trị tăng thêm thực tế, thay vì chỉ số dự án hoặc kinh phí đã giải ngân. Chuẩn hóa dữ liệu và đánh giá độc lập là cơ sở điều chỉnh hỗ trợ theo kết quả. Theo hướng đó, thị trường đầu tư lớn có thể trở thành nền tảng phát triển ngành cơ khí có năng lực tự chủ và đóng góp cao hơn cho nền kinh tế.
Tài liệu tham khảo:
[1]. Thủ tướng Chính phủ (2018). Quyết định số 319/QĐ-TTg ngày 15/3/2018 phê duyệt Chiến lược phát triển ngành cơ khí Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2035.
[2]. Cục Thống kê, Bộ Tài chính. Số liệu giá trị sản xuất công nghiệp theo ngành kinh tế và thành phần kinh tế giai đoạn 2018–2025.
[3]. Vụ Thị trường Ngoài nước, Bộ Công Thương (2026). Tổng hợp tình hình xuất nhập khẩu giai đoạn 2021–2025 và số liệu so sánh; dữ liệu do cơ quan hải quan cung cấp.
[4]. Tổng công ty Thiết bị điện Đông Anh (2024). Lễ xuất xưởng và gắn biển công trình Thiết kế chế tạo máy biến áp 500 kV–3×300 MVA. https://eemc.com.vn/14346.html
[5]. Bộ Công Thương (2023). Làm chủ nhiều công nghệ hiện đại của nhà máy nhiệt điện đốt than. Cổng thông tin điện tử Bộ Công Thương.



