Sự kiện - Vấn đề

Cơ giới hóa nông nghiệp chưa đáp ứng được yêu cầu sản xuất

16/06/2015 00:06
511 Lượt xem
Ngành Cơ khí chế tạo máy kéo, máy nông nghiệp trong nước mới chỉ đáp ứng được 32,6% thị trường song chất lượng các máy còn thiếu ổn định và hầu hết là máy có công suất nhỏ.
 Thông tin trên được đưa ra tại hội nghị “Đẩy mạnh cơ giới hóa tạo động lực tái cơ cấu ngành nông nghiệp” do Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tổ chức ngày 12/6, tại Hà Nội.
 
Nông dân huyện Kiến Xương sử dụng máy gặt đập liên hợp vào thu hoạch lúa vụ mùa. (Ảnh: Ngọc Hà/TTXVN)
         
Theo Cục Chế biến Nông lâm thủy sản, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, mặc dù nhiều khâu có tỷ lệ cơ giới hóa cao, song trình độ trang bị còn rất lạc hậu, thể hiện hầu hết các máy làm đất công suất nhỏ, chi phí thích hợp với quy mô hộ và đất manh mún, cơ giới hóa mới tập trung chủ yếu cấy lúa.
         
Mức độ trang bị động lực cho nông nghiệp của Việt Nam thấp hơn nhiều so với các nước trong khu vực và châu Á, hiện công suất mới đạt bình quân 1,6 HP/ha canh tác, trong khi các nước trong khu vực như Thái Lan 4 HP/ha, Trung Quốc 8 HP/ha, Hàn Quốc 10 HP/ha.
         
Bên cạnh đó, công tác nghiên cứu khoa học công nghệ và cơ khí nông nghiệp được các đại biểu chỉ ra là còn nhiều bất cập, chậm chuyển giao vào sản xuất. Năng lực nghiên cứu ứng dụng các máy phục vụ sản xuất nông nghiệp còn nhiều yếu kém, bất cập. Nhiều đề tài nghiên cứu thuộc Chương trình khoa học công nghệ trọng điểm cấp nhà nước và cấp Bộ thuộc lĩnh vực cơ điện nông nghiệp được triển khai, song không ít đề tài chưa gắn với nhu cầu của thực tế, thiếu tính sáng tạo, chưa phù hợp nên không được sản xuất chấp nhận.
          
Cục Chế biến Nông lâm thủy sản cũng cho biết cơ chế nghiên cứu và chuyển giao kết quả các đề tài khoa học công nghệ còn nhiều bất cập, quá trình từ nghiệm thu đề tài chuyển sang dự án sản xuất thử nghiệm thường kéo dài nên không đáp ứng kịp thời yêu cầu của sản xuất, điển hình như các mẫu máy gặt đập liên hợp lúa, máy thu hoạch muối và không ít đề tài khác. Trên thực tế, rất ít sản phẩm hàng hóa, có thương hiệu xuất xứ từ kết quả nghiên cứu, chuyển giao khoa học công nghệ trong lĩnh vực cơ điện nông nghiệp.
         
Theo ông Đoàn Xuân Hòa, Phó Chủ tịch Hội Cơ khí nông nghiệp Việt Nam, cả nước hiện có khoảng 100 cơ sở chế tạo, song phần lớn là quy mô nhỏ, sản xuất chất lượng thấp, quy trình sản xuất khép kín, thiếu chuyên môn hóa, thiếu hợp tác liên kết trong tổ chức sản xuất.
          
Kinh nghiệm của các nước có nền nông nghiệp hiện đại cho thấy việc thực hiện cơ giới hóa nông nghiệp vừa mang tính tuần tự, trước tiên thay thế lao động thủ công, vừa có tính chất “đón đầu” ứng dụng máy móc tiên tiến, hiện đại vào các khâu của chuỗi sản xuất sản phẩm nông nghiệp.
         
“Mức độ cơ giới hóa nông nghiệp là một trong những thước đo thể hiện năng lực hiện đại hóa sản xuất, hình thành sức cạnh tranh trong nền nông nghiệp hàng hóa,” ông Đoàn Xuân Hòa nhấn mạnh. 
         
Về tác động của chính sách hỗ trợ thúc đẩy cơ giới hóa nông nghiệp, ông Đoàn Xuân Hòa cho rằng, tuy hệ thống chính sách để phát triển ngành cơ khí đã tương đối đẩy đủ nhưng thực tế chỉ có một số cơ chế, chính sách được triển khai. Còn nhiều vướng mắc về cơ chế nên người dân và doanh nghiệp vẫn khó tiếp cận được với nguồn vốn hỗ trợ.
         
Đồng tình với quan điểm trên, Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam Trần Đức Viên cho rằng cần phải thực hiện tốt các chính sách đó bằng các cơ chế cụ thể. Đặc biệt cho ba vị trí quan trọng là doanh nghiệp, nông dân, nhà nghiên cứu khi đầu tư vào khoa học công nghệ, đầu tư cho cơ giới hóa.
         
“Nếu không đầu tư cho nghiên cứu khoa học trong nước thì các doanh nghiệp sẽ chỉ đi nhập khẩu máy móc từ Trung Quốc về lắp ráp,” ông Trần Đức Viên nhấn mạnh.
          
Mặc dù các ngành chức năng tích cực triển khai chính sách cho vay hỗ trợ giảm tổn thất trong nông nghiệp nhưng có thể thấy số lượt khách hàng và doanh số cho vay còn thấp.
         
Nguyên nhân được bà Phạm Thị Thanh Tùng, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chỉ ra là do việc quy định danh sách chủng loại máy, thiết bị được hưởng chính sách hỗ trợ nhằm giảm tổn thất trong nông nghiệp hiện nay còn hạn chế.
         
Bên cạnh đó, lãi suất tín dụng đầu tư của Nhà nước còn cao, hiện nay là 9,6%/ năm, trong khi mặt bằng lãi suất cho vay thương mại bình quân của các ngân hàng ở mức từ 9-10%/năm. Do không có sự chênh lệch nhiều nên chưa thu hút các tổ chức, cá nhân (đặc biệt là các doanh nghiệp) đầu tư các dự án dây chuyền máy móc, thiết bị, các dự án chế tạo máy, thiết bị sản xuất nông nghiệp.
          
Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Vũ Văn Tám cũng thừa nhận vẫn còn tồn tại một số bất cập trong triển khai Quyết định 68/2013/QĐ-TTg về chính sách hỗ trợ giảm tổn thất trong nông nghiệp.
         
Bộ đang chỉ đạo các đơn vị để sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện chính sách hơn trước hết nhằm giảm tổn thất trong nông nghiệp, đồng thời đẩy mạnh ứng dụng các cơ giới hóa, trang thiết bị vào nông nghiệp./.
 
MB (nguồn: theo Bích Hồng, http://www.vietnamplus.vn) 
Từ khóa:

Có thể bạn quan tâm

Phát triển cơ khí Việt Nam giai đoạn 2026 đến 2045 gắn với nâng cao giá trị tăng thêm

Giai đoạn 2026–2045, cơ khí Việt Nam cần đồng thời mở rộng sản xuất và nâng giá trị tăng thêm thông qua năng lực thiết kế, chế tạo, tích hợp hệ thống. Bằng phân tích cơ cấu ngành, kịch bản tăng trưởng và độ nhạy, bài báo làm rõ khoảng cách năng lực và yêu cầu chuyển đổi chất lượng tăng trưởng. Trên cơ sở đó, đề xuất tổ chức hỗ trợ theo dự án và đơn hàng; gắn chuyển giao công nghệ với quyền sử dụng, sửa đổi thiết kế; phát triển nhà cung ứng theo yêu cầu bên mua; phân bổ nguồn lực và đánh giá theo năng lực thực tế. Kết quả tính toán minh họa vai trò của việc nâng tỷ trọng giá trị tăng thêm, làm cơ sở lựa chọn chính sách phát triển ngành.

Chiến lược phát triển ngành cơ khí Việt Nam: Những kết quả đạt được và yêu cầu chuyển đổi chiều sâu

Sau hơn bảy năm triển khai Quyết định số 319/QĐ-TTg ngày 15/3/2018 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển ngành cơ khí Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2035, ngành cơ khí đã có những bước phát triển đáng ghi nhận về quy mô sản xuất, chủng loại sản phẩm và năng lực chế tạo. Tuy nhiên, để thực sự trở thành ngành công nghiệp nền tảng, có khả năng tự chủ công nghệ và tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu, cơ khí Việt Nam vẫn cần vượt qua những điểm nghẽn mang tính cơ cấu.

Xây dựng Chiến lược phát triển ngành Cơ khí Việt Nam đến năm 2035: Từ mở rộng quy mô đến làm chủ công nghệ

Ngành Cơ khí Việt Nam đang đứng trước cơ hội lớn từ làn sóng đầu tư vào năng lượng, đường sắt, khai khoáng và công nghiệp chế biến, chế tạo. Tuy nhiên, để biến tiềm năng thị trường thành năng lực sản xuất thực chất, chiến lược phát triển giai đoạn 2026–2045 cần tập trung vào làm chủ công nghệ, nâng cao năng lực doanh nghiệp nội địa và tạo cơ chế để doanh nghiệp Việt tham gia sâu hơn vào các dự án công nghiệp trọng điểm.

Hội nghị Khoa học và Công nghệ Cơ khí - Động lực lần thứ XIX: Thúc đẩy nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và kết nối thực tiễn

Ngày 18/10/2026, tại Trường Đại học Thủy lợi (Hà Nội), Hội nghị Khoa học và Công nghệ Cơ khí - Động lực lần thứ XIX năm 2026 đã diễn ra, quy tụ đông đảo các nhà khoa học, chuyên gia, giảng viên, đại diện cơ sở đào tạo, viện nghiên cứu và doanh nghiệp. Hội nghị tiếp tục khẳng định vai trò là diễn đàn học thuật quan trọng, góp phần thúc đẩy nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo và tăng cường kết nối giữa đào tạo, nghiên cứu với thực tiễn sản xuất.

Thương hiệu quốc gia Việt Nam: Từ khẳng định chất lượng đến nâng tầm vị thế

Tối 16/10/2026, tại Hà Nội, Hội đồng Thương hiệu quốc gia Việt Nam và Bộ Công Thương tổ chức Lễ Công bố sản phẩm đạt Thương hiệu quốc gia Việt Nam lần thứ 10 năm 2026, với chủ đề “Dòng chảy Thương hiệu Việt”.
0982254465
  • Zalo
  • Messenger
  • Back to top