Sự kiện - Vấn đề

Công nghiệp hỗ trợ: Có thúc mới chóng lớn

09/09/2015 00:09
582 Lượt xem
Đại diện cho cộng đồng DN, ông Huỳnh Văn Minh nhận định, đa số DN tại TP. Hồ Chí Minh có quy mô sản xuất nhỏ và vừa, phù hợp sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ nhưng rất tiếc lâu nay DN thiếu thông tin, thiếu nhà cung cấp nguyên liệu đầu vào, lúng túng về khâu tiêu thụ sản phẩm... Sự kết nối cung - cầu giữa các DN còn rời rạc và các DN nhỏ và vừa cảm thấy hụt hẫng trong cuộc chơi.

Sản phẩm ô tô do Công ty Samco sản xuất trưng bày tại triển lãm phát triển công nghiệp hỗ trợ tại TP. Hồ Chí Minh từ ngày 27- 30/8

Ưu đãi vay vốn và lãi suất       

Theo ông Tất Thành Cang, Phó chủ tịch UBND TP. Hồ Chí Minh, thành phố sẽ hỗ trợ lãi suất cho các doanh nghiệp (DN) vay vốn đầu tư nhà xưởng, mua sắm máy móc, trang thiết bị phục vụ sản xuất với mức hỗ trợ 50-70% hoặc 100% lãi suất trong thời gian 5-7 năm để giúp DN có điều kiện phát triển công nghiệp hỗ trợ. Đầu mối giới thiệu cho DN biết thêm thông tin về chương trình kích cầu hỗ trợ lãi vay này là Trung tâm Phát triển công nghiệp hỗ trợ TP.Hồ Chí Minh - đơn vị vừa được công bố thành lập ngày 26/8 vừa qua.      

Theo ông Cang, TP.Hồ Chí Minh dù đã phát triển công nghiệp mấy chục năm nhưng lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ vẫn còn “non trẻ”. Chính quyền thành phố sẽ tiếp tục tập trung khuyến khích đầu tư ngành điện tử, công nghệ thông tin, cơ khí, chế biến tinh lương thực thực phẩm, hóa dược, cao su, dệt may, da giày. Ông Cang cho biết trong vài năm tới, thành phố sẽ chọn lọc một số sản phẩm công nghiệp tiêu biểu và công nghiệp hỗ trợ của một số ngành cơ khí, điện tử, dệt may, da giày, chế biến thực phẩm, cao su... để vừa cung ứng trong nước vừa xuất khẩu ra nước ngoài, tham gia chuỗi sản xuất toàn cầu.         

Đại diện cho cộng đồng DN, ông Huỳnh Văn Minh nhận định, đa số DN tại TP. Hồ Chí Minh có quy mô sản xuất nhỏ và vừa, phù hợp sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ nhưng rất tiếc lâu nay DN thiếu thông tin, thiếu nhà cung cấp nguyên liệu đầu vào, lúng túng về khâu tiêu thụ sản phẩm... Sự kết nối cung - cầu giữa các DN còn rời rạc và các DN nhỏ và vừa cảm thấy hụt hẫng trong cuộc chơi.

Theo ông Minh, thời gian qua, nguồn vốn và lãi suất là hai yếu tố làm cho tư tưởng tiến công của DN bị hạn chế, nhất là khi đầu tư trung hạn và dài hạn cần điều kiện về lãi suất ổn định. “Lãi suất ở Việt Nam hiện quanh quẩn ở mức 10%, nếu so với DN một số nước lân cận có thể huy động vốn với mức lãi suất chỉ khoảng 2-3%, sản phẩm của DN trong nước vẫn khó cạnh tranh”, ông Minh phân tích thêm.

Hiện Sở Công Thương TP. Hồ Chí Minh đang xây dựng danh mục sản phẩm công nghiệp hỗ trợ cần ưu tiên phát triển. Một số tiêu chí lựa chọn sản phẩm ưu tiên như sản phẩm có công nghệ sản xuất phù hợp; có nhu cầu thị trường hiện tại và tương lai; có tiềm năng sử dụng vật liệu Việt Nam; có tiềm năng xuất khẩu; có tiềm năng phục vụ cho các DN FDI đóng tại Việt Nam; có tiềm năng huy động nguồn nhân lực kỹ năng trong nước; sản phẩm của DN có định hướng gia nhập thị trường trong và ngoài nước.

Cơ khí: cần nhiều hỗ trợ  bên cạnh vốn         

Ông Đỗ Phước Tống, Phó chủ tịch Hội Cơ khí TP.Hồ Chí Minh, thừa nhận mấy chục năm qua công nghiệp hỗ trợ ngành cơ khí như “đứa con nuôi hoài không lớn” bởi nguồn vốn hạn chế, không có tiền thuê đất xây nhà máy, đầu ra sản phẩm hẹp...         

Ông Tống cho biết, Hội Cơ khí TP. Hồ Chí Minh có khoảng 100 DN nhưng số DN làm ra sản phẩm công nghiệp hỗ trợ có chất lượng chỉ đếm được trên đầu ngón tay, như Lập Phúc, Mida, Duy Khanh, Tiến Tuấn...         

Theo ông Tống, muốn công nghiệp hỗ trợ phát triển thì ngoài chuyện hỗ trợ lãi suất vay vốn, chính quyền thành phố cần sớm có những giải pháp khuyến khích khác như cho nợ dài hạn tiền sử dụng đất xây nhà xưởng, hỗ trợ tiền thuê nhà xưởng, mặt bằng sản xuất, tạo thêm thị trường. Bên cạnh đó nên có chính sách bắt buộc chủ đầu tư các dự án hạ tầng lớn (các tuyến metro chẳng hạn) sử dụng những vật liệu, thiết bị trong nước làm được, giảm thuế VAT đối với sản phẩm công nghiệp hỗ trợ ngành cơ khí xuống còn 0% để cả người mua lẫn người bán sản phẩm cùng có lợi. Ngoài ra, cũng cần công khai danh mục sản phẩm mà các DN FDI có nhu cầu, mở thêm các trường lớn đào tạo nguồn nhân lực cho ngành cơ khí.

Cao su, nhựa, da giày... đều mong được giúp sức         

Theo các DN ngành cao su nhựa tại thành phố, hiện vẫn còn nhiều DN ngành nhựa đang “khát vốn” lãi suất thấp. Ngành cao su nhựa nếu chịu mức lãi vay khoảng 10% như hiện nay là khá cao, khó cạnh tranh với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cùng ngành, bởi tỷ suất lợi nhuận của ngành này chỉ khoảng 10%, vừa đủ trang trải lãi vay nên rất khó có lãi.        

Đại diện các DN da giày, ông Nguyễn Văn Khánh, Tổng thư ký Hội Da giày TP.Hồ Chí Minh cho rằng, ngoài chính sách hỗ trợ nguồn vốn giá rẻ ổn định và dài hạn, chi phí thuê mặt bằng sản xuất phù hợp, nhiều DN ngành da giày cần bước đột phá về kết nối đầu vào - đầu ra sản phẩm giữa các DN để bắt nhịp với các hiệp định thương mại tự do sắp có hiệu lực. Để giải quyết phần gốc mang tính dài hơi, Nhà nước cần nhanh chóng bỏ tiền đầu tư phát triển vùng nguyên phụ liệu cho ngành da giày để thỏa mãn quy tắc xuất xứ trong các hiệp định thương mại tự do khi DN xuất khẩu sản phẩm da giày sang các thị trường lớn.

Theo Cục Thống kê TP.Hồ Chí Minh, năm 2014, thành phố có đến 97% dDN cơ khí là DN vừa, nhỏ và siêu nhỏ phân bố rải rác trong khu dân cư; 95% DN chế biến tinh lương thực thực phẩm là nhỏ và siêu nhỏ nằm trong và ngoài khu công nghiệp; 88% DN da giày là nhỏ và siêu nhỏ phân bố ngoài khu và cụm công nghiệp; DN nhỏ và siêu nhỏ trong ngành dệt may cũng chiếm tỷ lệ đến 90%. Điều này cho thấy quy mô DN các ngành công nghiệp quan trọng của thành phố vẫn khá nhỏ lẻ, phân tán và manh mún.       

Hiện ngành da giày TP. Hồ Chí Minh có khoảng 520 DN, trong đó, khoảng 125 DN sản xuất các sản phẩm phụ trợ như sản xuất da, đế giày, vải dệt, vải không dệt, carton, nguyên phụ liệu khác... với tỷ lệ nội địa hóa nguyên phụ liệu đạt xấp xỉ 40%.

Theo kinh nghiệm các nước, lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ tập trung chủ yếu ở DN nhỏ và vừa. Mặc dù ở TP. Hồ Chí Minh, cộng đồng DN này chiếm đến 95% nhưng thời gian qua chưa có định hướng, thiếu cơ chế chính sách phù hợp thúc đẩy nên chậm phát triển.         

Mới đây, chính quyền thành phố đặt ra kế hoạch cụ thể hơn. Giai đoạn 2015-2020, thành phố sẽ dành 500 héc ta đất để thu hút các dự án đầu tư, phát triển công nghiệp hỗ trợ tại các khu công nghiệp Hiệp Phước, Lê Minh Xuân, khu công nghiệp ô tô và khu công nghệ cao.        

Ngoài ra, thành phố sẽ thí điểm xây 100.000 mét vuông diện tích sàn nhà xưởng cao tầng cho DN nhỏ và vừa hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ. Năm 2016 sẽ xây dựng nhà xưởng cao tầng tại Công ty cổ phần Sản xuất - Thương mại - Xuất nhập khẩu Indira Gandhi (3,7 héc ta); xây dựng cụm công nghiệp hỗ trợ ngành dệt may rộng 89 héc ta tại xã Lê Minh Xuân, huyện Bình Chánh. Sắp tới, ngân sách thành phố cũng sẽ dành khoảng 1.000 tyr đồng để hỗ trợ bù lãi vay cho các dự án đổi mới công nghệ, mở rộng sản xuất, xây dựng nhà xưởng cao tầng trong lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ.        

Mục tiêu của thành phố trong năm năm tới là phát triển công nghiệp hỗ trợ để thúc đẩy chỉ số phát triển công nghiệp của thành phố tăng bình quân 7%/năm.

DK (nguồn: theo http://baocongthuong.com.vn)
Từ khóa:

Có thể bạn quan tâm

Phát triển cơ khí Việt Nam giai đoạn 2026 đến 2045 gắn với nâng cao giá trị tăng thêm

Giai đoạn 2026–2045, cơ khí Việt Nam cần đồng thời mở rộng sản xuất và nâng giá trị tăng thêm thông qua năng lực thiết kế, chế tạo, tích hợp hệ thống. Bằng phân tích cơ cấu ngành, kịch bản tăng trưởng và độ nhạy, bài báo làm rõ khoảng cách năng lực và yêu cầu chuyển đổi chất lượng tăng trưởng. Trên cơ sở đó, đề xuất tổ chức hỗ trợ theo dự án và đơn hàng; gắn chuyển giao công nghệ với quyền sử dụng, sửa đổi thiết kế; phát triển nhà cung ứng theo yêu cầu bên mua; phân bổ nguồn lực và đánh giá theo năng lực thực tế. Kết quả tính toán minh họa vai trò của việc nâng tỷ trọng giá trị tăng thêm, làm cơ sở lựa chọn chính sách phát triển ngành.

Chiến lược phát triển ngành cơ khí Việt Nam: Những kết quả đạt được và yêu cầu chuyển đổi chiều sâu

Sau hơn bảy năm triển khai Quyết định số 319/QĐ-TTg ngày 15/3/2018 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển ngành cơ khí Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2035, ngành cơ khí đã có những bước phát triển đáng ghi nhận về quy mô sản xuất, chủng loại sản phẩm và năng lực chế tạo. Tuy nhiên, để thực sự trở thành ngành công nghiệp nền tảng, có khả năng tự chủ công nghệ và tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu, cơ khí Việt Nam vẫn cần vượt qua những điểm nghẽn mang tính cơ cấu.

Xây dựng Chiến lược phát triển ngành Cơ khí Việt Nam đến năm 2035: Từ mở rộng quy mô đến làm chủ công nghệ

Ngành Cơ khí Việt Nam đang đứng trước cơ hội lớn từ làn sóng đầu tư vào năng lượng, đường sắt, khai khoáng và công nghiệp chế biến, chế tạo. Tuy nhiên, để biến tiềm năng thị trường thành năng lực sản xuất thực chất, chiến lược phát triển giai đoạn 2026–2045 cần tập trung vào làm chủ công nghệ, nâng cao năng lực doanh nghiệp nội địa và tạo cơ chế để doanh nghiệp Việt tham gia sâu hơn vào các dự án công nghiệp trọng điểm.

Hội nghị Khoa học và Công nghệ Cơ khí - Động lực lần thứ XIX: Thúc đẩy nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và kết nối thực tiễn

Ngày 18/10/2026, tại Trường Đại học Thủy lợi (Hà Nội), Hội nghị Khoa học và Công nghệ Cơ khí - Động lực lần thứ XIX năm 2026 đã diễn ra, quy tụ đông đảo các nhà khoa học, chuyên gia, giảng viên, đại diện cơ sở đào tạo, viện nghiên cứu và doanh nghiệp. Hội nghị tiếp tục khẳng định vai trò là diễn đàn học thuật quan trọng, góp phần thúc đẩy nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo và tăng cường kết nối giữa đào tạo, nghiên cứu với thực tiễn sản xuất.

Thương hiệu quốc gia Việt Nam: Từ khẳng định chất lượng đến nâng tầm vị thế

Tối 16/10/2026, tại Hà Nội, Hội đồng Thương hiệu quốc gia Việt Nam và Bộ Công Thương tổ chức Lễ Công bố sản phẩm đạt Thương hiệu quốc gia Việt Nam lần thứ 10 năm 2026, với chủ đề “Dòng chảy Thương hiệu Việt”.
0982254465
  • Zalo
  • Messenger
  • Back to top