Sự kiện - Vấn đề

Ngành cơ khí Việt Nam: Thiếu chiến lược phát triển bài bản

25/09/2017 00:09
570 Lượt xem
Các doanh nghiệp cơ khí trong nước hiện chưa tìm được hướng đi cụ thể do đang thiếu chiến lược phát triển bài bản. Trong khi đó, từ nay đến năm 2035, nước ta vẫn phải tiếp tục đầu tư hàng chục nhà máy nhiệt điện. Đây chính là "cơ hội vàng" để phát triển, nhưng các doanh nghiệp có nắm bắt được hay không lại phụ thuộc rất lớn vào những chính sách kịp thời của nhà nước.

Thiếu chiến lược bài bản

Theo ông Nguyễn Văn Thụ - Chủ tịch Hiệp hội doanh nghiệp cơ khí Việt Nam (VAMI) - đến thời điểm hiện tại, hầu hết các văn bản pháp quy chủ chốt nhằm hỗ trợ, thúc đẩy ngành cơ khí chế tạo như Quyết định số186/2002/QĐ-TTg, Quyết định số 10/2009/QĐ-TTg về cơ chế hỗ trợ phát triển sản xuất sản phẩm cơ khí trọng điểm và danh mục các sản phẩm cơ khí trọng điểm đều đã hết hiệu lực. Thực tế, ngày 9/6/2016, Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng đã ký Công văn số 986/TTg-KTN đồng ý gia hạn hiệu lực của Quyết định số 10/2009/QĐ-TTg đến hết tháng 12/2016. Trong công văn này cũng nêu rõ: Bộ công Thương khẩn trương hoàn thiện Đề án chiến lược phát triển ngành cơ khí Việt Nam cho giai đoạn đến năm 2025, tầm nhìn tới năm 2035. Tuy nhiên hiện tại, Đề án chiến lược phát triển ngành cơ khí Việt Nam đã qua rất nhiều dự thảo lấy ý kiến nhưng vẫn chưa có bản chính thức. "Đến nay, cơ khí - một ngành được coi là mũi nhọn vẫn chưa thực sự được quan tâm đúng mực" - ông Thụ thẳng thắn chia sẻ.

Trong khi đó, theo quy hoạch điện VII điều chỉnh được phê duyệt, từ nay đến năm 2030, sẽ có 12 dự án nhiệt điện đốt than công suất tổ máy 600MW cần thực hiện do các tập đoàn, tổng công ty nhà nước làm chủ đầu tư. Nếu nhà nước có những chính sách khuyến khích phù hợp và kịp thời thì đây thực sự là "cơ hội vàng" cho các doanh nghiệp cơ khí trong nước. 

Cơ hội nào cho doanh nghiệp nội?

Ông Nguyễn Văn Thụ phân tích: Trung bình với một nhà máy nhiệt điện đốt than 1.200MW sẽ có tổng mức đầu tư khoảng 1,7-1,9 tỷ USD. Trong đó, giá trị gói thầu khoảng 1,4 tỷ USD, tương đương gần 30 nghìn tỷ đồng. Tổng khối lượng vật tư, thiết bị khoảng 110.000 tấn, riêng khối lượng gia công chế tạo trong nước khoảng 60.000 tấn. Một nhà máy nhiệt điện đốt than công suất 1.200MW được triển khai đầu tư xây dựng có tác động rất lớn tới sự phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương cũng như đất nước. Điều cốt lõi là các đơn vị trong nước có phấn đấu được làm tổng thầu EPC để góp phần gia tăng tỷ lệ nội địa hóa thiết bị trong nước lên hay không? Điều này lại quay trở lại câu chuyện đơn đặt hàng của nhà nước, bởi "đầu ra" chính là đây. Hàng trăm ngàn tấn thiết bị trị giá nhiều triệu USD sẽ có nguy cơ rơi vào tay tổng thầu nước ngoài nếu như nhà nước không có chính sách cụ thể, những "đơn đặt hàng" kịp thời để hỗ trợ các doanh nghiệp trong nước. 

"Lợi ích khi nhà thầu EPC trong nước thực hiện là rất lớn" - ông Thụ khẳng định và phân tích thêm: Thứ nhất, giá trị hợp đồng EPC cạnh tranh hoặc thấp hơn nhiều so với nhà thầu EPC nước ngoài. Do đó, có thể hỗ trợ chủ đầu tư giảm chi phí và rút ngắn thời gian thu hồi vốn. Thứ hai, nhà thầu trong nước thi công sẽ giúp chủ động trong công tác xây dựng và lắp đặt, là điều kiện tiên quyết để hoàn thành dự án đúng tiến độ. 

Đồng thời, việc này cũng giúp chủ động trong thực hiện chủ trương, đường lối của Chính phủ về tăng tỷ lệ nội địa hóa và sử dụng sản phẩm trong nước, phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ. 

Tuy nhiên, không dễ để các đơn vị trong nước có thể "vào" được các dự án này. Chính vì thế, ông Nguyễn Văn Thụ đề xuất, cần kiên quyết duy trì chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước về tăng cường sử dụng vật tư hàng hóa sản xuất trong nước. Chủ đầu tư của các dự án khi lập hồ sơ yêu cầu cho các gói thầu EPC nới lỏng các điều kiện, yêu cầu về năng lực, kinh nghiệm thực hiện các hệ thống thiết bị phụ trợ của nhà máy nhiệt điện để các nhà sản xuất trong nước có nhiều cơ hội hơn trong việc tham gia vào các dự án. Ngoài ra, tạo cơ chế đặc thù và hành lang pháp lý để hỗ trợ chủ đầu tư, tổng thầu trong nước mạnh dạn đưa những sản phẩm nội địa vào sử dụng cho dự án. Các doanh nghiệp cơ khí trong nước cần phát triển theo hướng chuyên môn hóa sâu, hợp tác rộng, tránh đầu tư trùng lặp dẫn tới cạnh tranh nội bộ, làm giảm cơ hội cùng tham gia vào các dự án lớn. 

Với một dự án nhiệt điện công suất 1.200MW, sẽ tạo việc làm ổn định cho khoảng 3.000 lao động trong 4 năm với mức thu nhập bình quân khoảng 10 triệu đồng/người/tháng. Mỗi năm, trung bình sẽ giải ngân 7.000 - 8.000 tỷ đồng, trong đó các phần công việc trong nước sản xuất và cung cấp chiếm khoảng 35% giá trị.

Thu Thảo  (nguồn: Theo Nguyễn Duyên http://baocongthuong.com.vn)   

Từ khóa:

Có thể bạn quan tâm

Phát triển cơ khí Việt Nam giai đoạn 2026 đến 2045 gắn với nâng cao giá trị tăng thêm

Giai đoạn 2026–2045, cơ khí Việt Nam cần đồng thời mở rộng sản xuất và nâng giá trị tăng thêm thông qua năng lực thiết kế, chế tạo, tích hợp hệ thống. Bằng phân tích cơ cấu ngành, kịch bản tăng trưởng và độ nhạy, bài báo làm rõ khoảng cách năng lực và yêu cầu chuyển đổi chất lượng tăng trưởng. Trên cơ sở đó, đề xuất tổ chức hỗ trợ theo dự án và đơn hàng; gắn chuyển giao công nghệ với quyền sử dụng, sửa đổi thiết kế; phát triển nhà cung ứng theo yêu cầu bên mua; phân bổ nguồn lực và đánh giá theo năng lực thực tế. Kết quả tính toán minh họa vai trò của việc nâng tỷ trọng giá trị tăng thêm, làm cơ sở lựa chọn chính sách phát triển ngành.

Chiến lược phát triển ngành cơ khí Việt Nam: Những kết quả đạt được và yêu cầu chuyển đổi chiều sâu

Sau hơn bảy năm triển khai Quyết định số 319/QĐ-TTg ngày 15/3/2018 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển ngành cơ khí Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2035, ngành cơ khí đã có những bước phát triển đáng ghi nhận về quy mô sản xuất, chủng loại sản phẩm và năng lực chế tạo. Tuy nhiên, để thực sự trở thành ngành công nghiệp nền tảng, có khả năng tự chủ công nghệ và tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu, cơ khí Việt Nam vẫn cần vượt qua những điểm nghẽn mang tính cơ cấu.

Xây dựng Chiến lược phát triển ngành Cơ khí Việt Nam đến năm 2035: Từ mở rộng quy mô đến làm chủ công nghệ

Ngành Cơ khí Việt Nam đang đứng trước cơ hội lớn từ làn sóng đầu tư vào năng lượng, đường sắt, khai khoáng và công nghiệp chế biến, chế tạo. Tuy nhiên, để biến tiềm năng thị trường thành năng lực sản xuất thực chất, chiến lược phát triển giai đoạn 2026–2045 cần tập trung vào làm chủ công nghệ, nâng cao năng lực doanh nghiệp nội địa và tạo cơ chế để doanh nghiệp Việt tham gia sâu hơn vào các dự án công nghiệp trọng điểm.

Hội nghị Khoa học và Công nghệ Cơ khí - Động lực lần thứ XIX: Thúc đẩy nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và kết nối thực tiễn

Ngày 18/10/2026, tại Trường Đại học Thủy lợi (Hà Nội), Hội nghị Khoa học và Công nghệ Cơ khí - Động lực lần thứ XIX năm 2026 đã diễn ra, quy tụ đông đảo các nhà khoa học, chuyên gia, giảng viên, đại diện cơ sở đào tạo, viện nghiên cứu và doanh nghiệp. Hội nghị tiếp tục khẳng định vai trò là diễn đàn học thuật quan trọng, góp phần thúc đẩy nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo và tăng cường kết nối giữa đào tạo, nghiên cứu với thực tiễn sản xuất.

Thương hiệu quốc gia Việt Nam: Từ khẳng định chất lượng đến nâng tầm vị thế

Tối 16/10/2026, tại Hà Nội, Hội đồng Thương hiệu quốc gia Việt Nam và Bộ Công Thương tổ chức Lễ Công bố sản phẩm đạt Thương hiệu quốc gia Việt Nam lần thứ 10 năm 2026, với chủ đề “Dòng chảy Thương hiệu Việt”.
0982254465
  • Zalo
  • Messenger
  • Back to top