Sự kiện - Vấn đề

Sản xuất công nghiệp tháng 2 tăng 5,1%

06/03/2023 07:03
1161 Lượt xem
TCCKVN Chỉ số PMI ngành sản xuất Việt Nam đã tăng trở lại từ mức 47,4 điểm trong tháng 1/2023 lên mức 51,2 điểm vào tháng 2/2023, khi số lượng đơn đặt hàng mới tăng trở lại với sự hỗ trợ của tình trạng tăng sản lượng, việc làm và hoạt động mua hàng.

Sức khỏe ngành sản xuất đã bắt đầu cải thiện. 

Theo Báo cáo tình hình sản xuất công nghiệp và hoạt động thương mại tháng 2 và 2 tháng đầu năm 2023 của Bộ Công Thương, sức khỏe ngành sản xuất đã bắt đầu cải thiện sau thời kỳ suy giảm kéo dài ba tháng. Theo đó, Chỉ số PMI ngành sản xuất Việt Nam đã tăng trở lại lên trên ngưỡng 50 điểm vào tháng 2/2023 (từ mức 47,4 điểm trong tháng 1/2023 lên mức 51,2 điểm). Điều này cho thấy ngành sản xuất của Việt Nam trong tháng 2/2023 đã ghi nhận tăng trưởng trở lại khi số lượng đơn đặt hàng mới tăng trở lại với sự hỗ trợ của tình trạng tăng sản lượng, việc làm và hoạt động mua hàng. Nhu cầu cải thiện đã khiến niềm tin kinh doanh tăng lần thứ ba liên tiếp.

Bước sang tháng 02/2023, do tổng cầu từ nước ngoài suy giảm tác động đến số lượng đơn đặt hàng và quy mô đơn hàng sụt giảm đã ảnh hưởng đến sản xuất công nghiệp. Mặc dù số ngày làm việc trong tháng 02/2023 nhiều hơn so với tháng trước đó nhưng chỉ số IIP trong tháng này ước chỉ tăng khoảng 5,1% và chỉ tăng 3,6% so với cùng kỳ. Tính chung 02 tháng đầu năm 2023, IIP giảm 6,3% so với cùng kỳ, trong đó công nghiệp chế biến chế tạo ước giảm 6,9%; công nghiệp khai khoáng ước giảm 3,8%; sản xuất và phân phối điện ước giảm 5,2%.

Sản xuất công nghiệp tháng 02/2023 ước tính tăng 5,1% so với tháng trước do số ngày làm việc nhiều hơn và người lao động đã quay trở lại làm việc trong doanh nghiệp. So với cùng kỳ năm trước, sản xuất công nghiệp tháng 02/2023 tăng 3,6%. Trong đó, ngành khai khoáng tăng 7%; ngành chế biến, chế tạo tăng 3,3%; sản xuất và phân phối điện tăng 2,8%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 6%

Tính chung hai tháng đầu năm 2023, IIP ước giảm 6,3% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ tăng 5,6%) do kinh tế thế giới tiếp tục gặp nhiều khó khăn, biến động khó lường, lạm phát các nước mặc dù hạ nhiệt nhưng vẫn ở mức cao, đơn hàng giảm, kim ngạch xuất khẩu giảm6. Trong đó, ngành khai khoáng giảm 3,8% (cùng kỳ tăng 0,1%), làm giảm 0,6 điểm phần trăm trong mức tăng chung; ngành chế biến, chế tạo giảm 6,9% (cùng kỳ tăng 6,1%), làm giảm 5,3 điểm phần trăm; ngành sản xuất và phân phối điện giảm 5,2% (cùng kỳ tăng 8,4%), làm giảm 0,5 điểm phần trăm; riêng ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 2,3% (cùng kỳ tăng 3,7%), đóng góp 0,1 điểm phần trăm.

Chỉ số sản xuất công nghiệp hai tháng đầu năm 2023 của một số ngành trọng điểm cấp II giảm mạnh so với cùng kỳ năm trước: Sản xuất thiết bị điện giảm 50,7%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế giảm 13,6%; sản xuất giấy và các sản phẩm từ giấy giảm 13%; sản xuất kim loại giảm 12,2%; sản xuất trang phục giảm 11,7%; dệt giảm 11%; sản xuất phương tiện vận tải khác và sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác cùng giảm 8,6%; sản xuất xe có động cơ giảm 6%; sản xuất da và các sản phẩm liên quan giảm 5,3%. Ở chiều ngược lại, chỉ số IIP của một số ngành tăng so với cùng kỳ năm trước: Sản xuất đồ uống tăng 32,4%; sản xuất than cốc, sản phẩm dầu mỏ tinh chế tăng 20%; sửa chữa, bảo dưỡng và lắp đặt máy móc và thiết bị tăng 6,5%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 6,1%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 6%; khai thác, xử lý và cung cấp nước tăng 4,3%; khai thác quặng kim loại tăng 4,2%.

Chỉ số IIP hai tháng đầu năm 2023 so với cùng kỳ năm trước tăng ở 44 địa phương và giảm ở 19 địa phương trên cả nước. Một số địa phương có chỉ số IIP đạt mức tăng khá cao do ngành công nghiệp chế biến tăng cao so với cùng kỳ năm trước như: Tuyên Quang tăng 26,3%; Hải Phòng tăng 14,4%; Hải Dương và Phú Thọ tăng 14,3%; Kon Tum tăng 13,4%; Bắc Giang tăng 11,9%; An Giang tăng 11,8%; Hậu Giang tăng 8,9%. Ở chiều ngược lại, một số địa phương có chỉ số IIP tăng thấp hoặc giảm do ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng thấp hoặc giảm so với tháng trước như: Quảng Nam giảm 38,9%; Bà Rịa - Vũng Tàu giảm 18,2%; Vĩnh Long giảm 15,7%; Sóc Trăng giảm 15,5%; Lai Châu giảm 15,3%; Đà Nẵng giảm 10,4%; Bắc Ninh giảm 9,1%; Quãng Ngãi giảm 8,5%; Hà Giang giảm 6%...

Một số sản phẩm công nghiệp chủ lực trong hai tháng đầu năm 2023 giảm so với cùng kỳ năm trước: Ô tô giảm 18,3%; thép cán giảm 15,1%; quần áo mặc thường giảm 14,8%; thép thanh, thép góc giảm 13,8%; vải dệt từ sợi tự nhiên giảm 13,3%; xe máy giảm 12,4%; điện thoại di động giảm 9,6%; sữa bột giảm 7,8%; dầu thô khai thác giảm 5,8%; xi măng giảm 5,6%; điện sản xuất giảm 4,8%; khí hóa lỏng LPG giảm 4,7%. Bên cạnh đó, một số sản phẩm tăng so với cùng kỳ năm trước: Bia tăng 33,5%; xăng dầu tăng 21,6%; vải dệt từ sợi nhân tạo tăng 8%.

Ngân Giang

Có thể bạn quan tâm

ASEAN trước bước ngoặt công nghệ: Từ trung tâm sản xuất đến trung tâm đổi mới sáng tạo toàn cầu

Sự phát triển bùng nổ của trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, kinh tế số và chuyển đổi xanh đang làm thay đổi sâu sắc cấu trúc kinh tế toàn cầu, đồng thời tái định nghĩa những yếu tố cốt lõi tạo nên sức mạnh cạnh tranh của mỗi quốc gia và khu vực. Trong bối cảnh đó, ASEAN không thể chỉ là bên tiếp nhận các xu hướng công nghệ mới mà cần chủ động tham gia định hình những chuẩn mực phát triển của thời đại.

Đề xuất đầu tư tuyến đường sắt TP.HCM – Cần Thơ hơn 171.000 tỷ đồng: Bước đột phá hạ tầng và công nghệ cho Đồng bằng sông Cửu Long

Ban Quản lý dự án Mỹ Thuận vừa báo cáo Bộ Xây dựng kết quả nghiên cứu tiền khả thi Dự án đầu tư tuyến đường sắt TP.HCM – Cần Thơ với tổng mức đầu tư sơ bộ hơn 171.000 tỷ đồng. Đây được xem là một trong những dự án hạ tầng giao thông quan trọng nhất khu vực phía Nam trong giai đoạn tới, không chỉ góp phần hoàn thiện mạng lưới giao thông quốc gia mà còn mở ra cơ hội phát triển mới cho Đồng bằng sông Cửu Long thông qua việc ứng dụng các công nghệ đường sắt hiện đại.

Vì một nền văn minh sinh thái, một Việt Nam xanh và một đại dương hòa bình, bền vững

Tạp chí Cơ khí Việt Nam trân trọng giới thiệu bài viết của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm với tiêu đề: "Vì một nền văn minh sinh thái, một Việt Nam xanh và một đại dương hòa bình, bền vững".

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm giao 6 nhiệm vụ trọng tâm cho Công đoàn Việt Nam

Đại hội XIV Công đoàn Việt Nam đánh dấu một giai đoạn phát triển mới của tổ chức đại diện cho giai cấp công nhân và người lao động cả nước. Phát biểu chỉ đạo tại Đại hội, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nhấn mạnh vai trò đặc biệt quan trọng của Công đoàn Việt Nam trong tiến trình phát triển đất nước, đồng thời giao 6 nhiệm vụ trọng tâm nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức công đoàn trong bối cảnh mới.

Công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục là động lực tăng trưởng của nền kinh tế

Bức tranh sản xuất công nghiệp Việt Nam trong 5 tháng đầu năm 2026 tiếp tục ghi nhận nhiều tín hiệu tích cực khi chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) tăng 9,1% so với cùng kỳ năm trước. Đây là mức tăng cao nhất của 5 tháng đầu năm trong vòng 4 năm trở lại đây, phản ánh đà phục hồi và mở rộng sản xuất mạnh mẽ của cộng đồng doanh nghiệp, đặc biệt là khu vực công nghiệp chế biến, chế tạo – động lực tăng trưởng chủ lực của nền kinh tế.
0904177637
  • Zalo
  • Messenger
  • Back to top