Sự kiện - Vấn đề

Tín hiệu tích cực từ thị trường lao động quý 1/2023

07/04/2023 00:04
1211 Lượt xem
Thị trường lao động quý 1/2023 tiếp tục duy trì đà phục hồi khi số người có việc làm và thu nhập bình quân tháng của người lao động tăng so với quý trước cũng như cùng kỳ năm trước…

Tại Họp báo về tình hình lao động quý 1/2023 diễn ra sáng 6/4, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê Nguyễn Trung Tiến cho biết, thu nhập bình quân tháng của người lao động quý 1 là 7,0 triệu đồng, tăng 197.000 đồng so với quý trước và tăng 640.000 đồng so với cùng kỳ năm trước. Số người từ 15 tuổi trở lên có việc làm quý 1/2023 là 51,1 triệu người, tăng 113.500 người so với quý trước và tăng 1,1 triệu người so với cùng kỳ năm trước.

Tổng cục Thống kê thông tin tình hình thị trường lao động quý 1/2023

Theo Tổng cục Thống kê, thu nhập bình quân của lao động ở khu vực thành thị cao gấp 1,41 lần khu vực nông thôn (8,6 triệu đồng so với 6,1 triệu đồng).

Đáng chú ý, thu nhập bình quân của người lao động tăng ở cả ba khu vực kinh tế. Trong đó, khu vực dịch vụ có tốc độ tăng thu nhập cao nhất. 

So với cùng kỳ năm 2022, thu nhập bình quân tháng của lao động làm việc trong dịch vụ là 8,3 triệu đồng, tăng 10,1%, tương ứng tăng 766.000 đồng. 

Lao động làm việc trong ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản có thu nhập bình quân là 4,1 triệu đồng, tăng 9,2%, tương ứng tăng khoảng 345.000 đồng. Lao động làm việc trong khu vực công nghiệp và xây dựng là 7,9 triệu đồng, là khu vực có tốc độ tăng thấp nhấp trong ba khu vực kinh tế, tăng 9,0%, tương ứng tăng khoảng 655.000 đồng so với cùng kỳ năm trước.

Xét theo ngành kinh tế, một số ngành kinh tế ghi nhận tốc độ tăng so với quý trước như: Lao động làm việc trong ngành khai khoáng có thu nhập bình quân là 10,3 triệu đồng, tăng 6,7%, tương ứng tăng 640.000 đồng so với quý trước; thu nhập bình quân tháng của lao động trong ngành bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, xe máy là 8,2 triệu đồng, tăng 3,8%, tương ứng tăng 300.000 đồng so với quý trước; ngành vận tải, kho bãi lao động có thu nhập bình quân tháng là 9,6 triệu đồng, tăng 2,7%, tương ứng tăng 255.000 đồng so với quý trước.

"Tuy vậy, sự gia tăng thu nhập của người lao động trong quý này không diễn ra ở tất các ngành kinh tế. Trong khi thu nhập bình quân của người lao động một số ngành kinh tế tăng, một số ngành kinh tế khác có sự sụt giảm thu nhập bình quân so với quý trước", đại diện lãnh đạo Tổng cục thống kê thông tin thêm.

Cũng theo Tổng cục Thống kê, số người từ 15 tuổi trở lên có việc làm quý 1/2023 là 51,1 triệu người, tăng 113.500 người so với quý trước và tăng 1,1 triệu người so với cùng kỳ năm trước.

Trong tổng số 51,1 triệu lao động có việc làm, lao động trong khu vực dịch vụ chiếm tỷ trọng lớn nhất với 39,0%, tương đương gần 20,0 triệu người, tiếp đến là lao động trong khu vực công nghiệp và xây dựng, chiếm 33,9%, tương đương 17,3 triệu người. Lao động trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng thấp nhất, 27,1%, tương đương 13,8 triệu người. So với quý trước và cùng kỳ năm trước, qui mô lao động trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản đều giảm lần lượt là 285,6 nghìn người và 53,6 nghìn người; lao động trong khu vực công nghiệp và xây dựng tăng lần lượt là 360,9 nghìn người và 566,9 nghìn người; lao động trong ngành dịch vụ tăng lần lượt là 38,1 nghìn người và 599,3 nghìn người. 

Ngoài ra, số người thiếu việc làm trong độ tuổi quý 1/2023 là khoảng 885.500 người, giảm 12.400 người so với quý trước và giảm 443.100 người so với cùng kỳ năm trước.

Tỉ lệ tham gia lực lượng lao động quý 1/2023 là 68,9%, không thay đổi so với quý trước và tăng 0,8 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, tỉ lệ tham gia lực lượng lao động của nữ giới là 62,9% và nam giới là 75,3%. Tỉ lệ tham gia lực lượng lao động khu vực thành thị là 65,2%, trong khi đó tỉ lệ này ở nông thôn là 71,3%.

Xem xét theo nhóm tuổi, tỉ lệ tham gia lực lượng lao động ở khu vực thành thị thấp hơn khu vực nông thôn ở các nhóm tuổi rất trẻ và nhóm tuổi già, trong đó chênh lệch nhiều nhất được ghi nhận ở nhóm 55 tuổi trở lên (thành thị: 30,9%; nông thôn: 48,3%) và nhóm từ 15-24 tuổi (thành thị: 39,0%; nông thôn: 48,8%). Điều này cho thấy, người dân tại khu vực nông thôn gia nhập thị trường lao động sớm hơn và rời bỏ thị trường muộn hơn khá nhiều so với khu vực thành thị.

Để thị trường lao động phục hồi bền vững, đảm bảo cuộc sống cho người lao động, Tổng cục Thống kê đề xuất 3 giải pháp như sau:

Tiếp tục triển khai hiệu quả các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp và người lao động, phát động các chương trình kích cầu nội địa, hỗ trợ xúc tiến thương mại, tìm kiếm khai thác thị trường mới, đơn hàng mới cho doanh nghiệp.

Đẩy mạnh thực hiện các giải pháp phát triển nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển của các ngành, lĩnh vực; sắp xếp, tổ chức, cơ cấu lại và nâng cao chất lượng đào tạo của các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, bảo đảm cung cấp đủ lao động có kỹ năng nghề đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội; Tiếp tục thực hiện chính sách hỗ trợ đào tạo, đào tạo lại cho người lao động để duy trì việc làm.

Tiếp tục hoàn thiện hệ thống quản trị thị trường lao động phù hợp, từng bước hiện đại, minh bạch có kết nối với cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và các cơ sở dữ liệu khác làm cơ sở xây dựng và tổ chức triển khai kịp thời, hiệu quả kết nối cung cầu lao động, việc làm, an sinh xã hội.

Văn Sơn

Có thể bạn quan tâm

Phát triển cơ khí Việt Nam giai đoạn 2026 đến 2045 gắn với nâng cao giá trị tăng thêm

Giai đoạn 2026–2045, cơ khí Việt Nam cần đồng thời mở rộng sản xuất và nâng giá trị tăng thêm thông qua năng lực thiết kế, chế tạo, tích hợp hệ thống. Bằng phân tích cơ cấu ngành, kịch bản tăng trưởng và độ nhạy, bài báo làm rõ khoảng cách năng lực và yêu cầu chuyển đổi chất lượng tăng trưởng. Trên cơ sở đó, đề xuất tổ chức hỗ trợ theo dự án và đơn hàng; gắn chuyển giao công nghệ với quyền sử dụng, sửa đổi thiết kế; phát triển nhà cung ứng theo yêu cầu bên mua; phân bổ nguồn lực và đánh giá theo năng lực thực tế. Kết quả tính toán minh họa vai trò của việc nâng tỷ trọng giá trị tăng thêm, làm cơ sở lựa chọn chính sách phát triển ngành.

Chiến lược phát triển ngành cơ khí Việt Nam: Những kết quả đạt được và yêu cầu chuyển đổi chiều sâu

Sau hơn bảy năm triển khai Quyết định số 319/QĐ-TTg ngày 15/3/2018 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển ngành cơ khí Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2035, ngành cơ khí đã có những bước phát triển đáng ghi nhận về quy mô sản xuất, chủng loại sản phẩm và năng lực chế tạo. Tuy nhiên, để thực sự trở thành ngành công nghiệp nền tảng, có khả năng tự chủ công nghệ và tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu, cơ khí Việt Nam vẫn cần vượt qua những điểm nghẽn mang tính cơ cấu.

Xây dựng Chiến lược phát triển ngành Cơ khí Việt Nam đến năm 2035: Từ mở rộng quy mô đến làm chủ công nghệ

Ngành Cơ khí Việt Nam đang đứng trước cơ hội lớn từ làn sóng đầu tư vào năng lượng, đường sắt, khai khoáng và công nghiệp chế biến, chế tạo. Tuy nhiên, để biến tiềm năng thị trường thành năng lực sản xuất thực chất, chiến lược phát triển giai đoạn 2026–2045 cần tập trung vào làm chủ công nghệ, nâng cao năng lực doanh nghiệp nội địa và tạo cơ chế để doanh nghiệp Việt tham gia sâu hơn vào các dự án công nghiệp trọng điểm.

Hội nghị Khoa học và Công nghệ Cơ khí - Động lực lần thứ XIX: Thúc đẩy nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và kết nối thực tiễn

Ngày 18/10/2026, tại Trường Đại học Thủy lợi (Hà Nội), Hội nghị Khoa học và Công nghệ Cơ khí - Động lực lần thứ XIX năm 2026 đã diễn ra, quy tụ đông đảo các nhà khoa học, chuyên gia, giảng viên, đại diện cơ sở đào tạo, viện nghiên cứu và doanh nghiệp. Hội nghị tiếp tục khẳng định vai trò là diễn đàn học thuật quan trọng, góp phần thúc đẩy nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo và tăng cường kết nối giữa đào tạo, nghiên cứu với thực tiễn sản xuất.

Thương hiệu quốc gia Việt Nam: Từ khẳng định chất lượng đến nâng tầm vị thế

Tối 16/10/2026, tại Hà Nội, Hội đồng Thương hiệu quốc gia Việt Nam và Bộ Công Thương tổ chức Lễ Công bố sản phẩm đạt Thương hiệu quốc gia Việt Nam lần thứ 10 năm 2026, với chủ đề “Dòng chảy Thương hiệu Việt”.
0982254465
  • Zalo
  • Messenger
  • Back to top