
TP. Hồ Chí Minh bổ sung nhiều chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ.
Ủy ban nhân dân TP. Hồ Chí Minh vừa ban hành Quyết định số 5119/QĐ-UBND ngày 13/8/2026, phê duyệt Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ trên địa bàn Thành phố giai đoạn 2026-2030.
Chương trình được xem là một bước cụ thể hóa định hướng phát triển công nghiệp của Thành phố trong giai đoạn mới, với mục tiêu hình thành hệ sinh thái công nghiệp hỗ trợ hiện đại, nâng cao năng lực công nghệ, quản trị và sức cạnh tranh của doanh nghiệp, đồng thời từng bước làm chủ sản xuất nguyên vật liệu, linh kiện, phụ tùng và thiết bị đầu vào.
Chương trình được xây dựng trên cơ sở Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày 19/5/2026 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển TP. Hồ Chí Minh trong kỷ nguyên mới, Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ TP. Hồ Chí Minh lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030, cùng các định hướng phát triển công nghiệp hỗ trợ của Chính phủ.
Đáng chú ý, Chương trình cũng cụ thể hóa các mục tiêu của Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ giai đoạn 2026-2035, được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 929/QĐ-TTg ngày 25/5/2026.
Theo đó, phát triển công nghiệp hỗ trợ được xác định là một trong những giải pháp quan trọng để nâng cao năng lực tự chủ của nền công nghiệp, giảm sự phụ thuộc vào nguồn nguyên vật liệu, linh kiện, phụ tùng và thiết bị đầu vào nhập khẩu.
Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ của TP. Hồ Chí Minh giai đoạn 2026-2030 đặt trọng tâm vào việc nâng thực chất năng lực của doanh nghiệp, lấy khả năng tham gia chuỗi cung ứng, tỷ lệ nội địa hóa và giá trị gia tăng tạo ra trong nước làm những thước đo quan trọng.
Một trong những mục tiêu đáng chú ý nhất của Chương trình là Thành phố phấn đấu nâng tỷ lệ nội địa hóa ngành công nghiệp từ 5-10% mỗi năm.
Đến năm 2030, tỷ lệ nội địa hóa của ngành điện tử được đặt mục tiêu đạt trên 30%; cơ khí chế tạo trên 40%; ô tô trên 30%; dệt may trên 60%; da giày trên 65% và công nghiệp công nghệ cao trên 15%.
Các lĩnh vực được ưu tiên phát triển gồm điện tử thông minh, thiết bị năng lượng, đường sắt, cơ khí và tự động hóa, ô tô, công nghiệp công nghệ cao, dệt may và da giày.
Thành phố hướng tới hình thành mạng lưới doanh nghiệp có đủ năng lực công nghệ, quản trị và sản xuất để đáp ứng yêu cầu của các doanh nghiệp dẫn dắt trong nước và quốc tế.
Đến năm 2030, Thành phố phấn đấu có từ 7-12 doanh nghiệp lớn tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu, đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp nội địa từng bước trở thành nhà cung ứng cấp 1, cấp 2 trong các chuỗi cung ứng.
Để hiện thực hóa mục tiêu này, Thành phố sẽ tiếp tục rà soát, triển khai các cơ chế hỗ trợ phát triển công nghiệp hỗ trợ theo Nghị định số 111/2015/NĐ-CP và Nghị định số 205/2025/NĐ-CP; đồng thời nghiên cứu các chính sách thúc đẩy gia tăng tỷ lệ nội địa hóa, phát triển thị trường cho sản phẩm sản xuất trong nước và nâng cao năng lực tự chủ công nghệ.
Việc thu hút đầu tư nước ngoài cũng được định hướng theo hướng có chọn lọc, ưu tiên các dự án có khả năng tạo hiệu ứng lan tỏa và thúc đẩy phát triển chuỗi cung ứng nội địa.
Các tập đoàn đa quốc gia được khuyến khích liên doanh, liên kết với doanh nghiệp Việt Nam, tạo điều kiện để doanh nghiệp trong nước tham gia sản xuất các sản phẩm có hàm lượng công nghệ và giá trị gia tăng cao.
Bên cạnh đó, Thành phố tiếp tục triển khai các chính sách hỗ trợ về thuế, tiền thuê đất, tín dụng và lãi suất theo quy định. Các dự án thuộc lĩnh vực ưu tiên có thể tiếp cận cơ chế hỗ trợ lãi suất thông qua nguồn vốn do Công ty Đầu tư Tài chính Nhà nước TP. Hồ Chí Minh (HFIC) cho vay.
Để phát triển công nghiệp hỗ trợ theo hướng dài hạn, một trong những vấn đề được Thành phố đặc biệt quan tâm là không gian sản xuất và hạ tầng công nghiệp.
Theo Chương trình, các khu chế xuất và khu công nghiệp hiện hữu sẽ được định hướng chuyển đổi, gắn với phát triển công nghiệp công nghệ cao, khu công nghiệp sinh thái, khu công nghiệp thế hệ mới và khu công nghiệp thông minh.
Việc chuẩn bị quỹ đất cho các dự án công nghiệp hỗ trợ sẽ được gắn với quy hoạch khu công nghiệp, khu công nghệ cao, cụm công nghiệp, hệ thống logistics, giao thông, điện, nước và hạ tầng xử lý môi trường.
TP. Hồ Chí Minh sẽ đẩy mạnh kết nối với các địa phương vùng Đông Nam Bộ, tận dụng mạng lưới khu công nghiệp, khu công nghệ cao, trung tâm logistics, cảng biển, doanh nghiệp FDI và các doanh nghiệp đầu cuối.
Bên cạnh tỷ lệ nội địa hóa, nâng cao năng lực doanh nghiệp là một trong những trọng tâm xuyên suốt của Chương trình.
Theo đó, doanh nghiệp sẽ được hỗ trợ áp dụng các hệ thống quản lý và công cụ cải tiến năng suất, chất lượng; triển khai hệ thống truy xuất nguồn gốc; ứng dụng công nghệ số trong quản trị sản xuất và quản trị doanh nghiệp.
Việc tiếp cận các tiêu chuẩn và chứng nhận về sản phẩm, môi trường, năng lượng, an toàn và sức khỏe nghề nghiệp cũng sẽ được đẩy mạnh, giúp doanh nghiệp đáp ứng tốt hơn yêu cầu của các tập đoàn và thị trường quốc tế.
Hoạt động nghiên cứu và phát triển khoa học - công nghệ sẽ được gắn trực tiếp với nhu cầu sản xuất. Thành phố dự kiến rà soát và đặt hàng các nhiệm vụ khoa học - công nghệ xuất phát từ những bài toán thực tế của doanh nghiệp, tập trung vào các lĩnh vực vật liệu, linh kiện, phụ tùng, khuôn mẫu, tự động hóa, tiết kiệm năng lượng, giảm phát thải, cải tiến quy trình và phát triển sản phẩm mới.
Mối liên kết giữa viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp cũng được tăng cường nhằm thúc đẩy thử nghiệm, chuyển giao và thương mại hóa các kết quả nghiên cứu.
Doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ sẽ được hỗ trợ tiếp cận các phòng thí nghiệm, trung tâm kiểm định, đo lường; thực hiện thử nghiệm sản phẩm và đạt các chứng nhận quốc tế phù hợp với yêu cầu của những ngành công nghiệp có tiêu chuẩn cao như ô tô, điện tử và hàng không.
Nguồn nhân lực cũng được xác định là một trong những trụ cột của quá trình nâng cấp doanh nghiệp. Chương trình đặt mục tiêu hỗ trợ đào tạo về quản trị sản xuất, kỹ thuật và chất lượng cho tối thiểu 50 doanh nghiệp mỗi năm.
Nếu được triển khai đồng bộ và hiệu quả, Chương trình sẽ tạo thêm nền tảng để TP. Hồ Chí Minh không chỉ duy trì vai trò là một trung tâm kinh tế lớn của cả nước, mà còn trở thành một hạt nhân quan trọng trong việc xây dựng hệ sinh thái công nghiệp hiện đại, tự chủ và có sức cạnh tranh quốc tế.



