Sự kiện - Vấn đề

Ưu tiên nguồn lực, làm chủ công nghệ lõi, tạo đột phá cho phát triển quốc gia

22/04/2026 11:04
202 Lượt xem
Ngày 22/4, tại trụ sở Chính phủ, Thủ tướng Lê Minh Hưng đã chủ trì cuộc làm việc quan trọng với Bộ Khoa học và Công nghệ về tình hình triển khai các nhiệm vụ khoa học, công nghệ (KHCN), đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Cuộc họp diễn ra trong bối cảnh Việt Nam đang bước vào giai đoạn tăng tốc phát triển dựa trên tri thức và công nghệ, với trọng tâm là hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị.

Tham dự cuộc họp còn có lãnh đạo Chính phủ và nhiều bộ, ngành quan trọng, trong đó có Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc, các Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng, Nguyễn Văn Thắng cùng Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Vũ Hải Quân.

Thủ tướng Lê Minh Hưng làm việc với Bộ Khoa học và Công nghệ, ngày 22/4. Ảnh: Nhật Bắc

Theo báo cáo tại cuộc họp, việc triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW thời gian qua đã đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận, tạo chuyển biến rõ nét trong toàn hệ thống. Trong năm 2025 và quý I/2026, Bộ Khoa học và Công nghệ đã tham mưu trình ban hành 10 luật, 1 nghị quyết, 35 nghị định và 60 quyết định – một khối lượng thể chế lớn, góp phần hoàn thiện hành lang pháp lý cho phát triển KHCN và đổi mới sáng tạo.

Đáng chú ý, Việt Nam đã xác định 11 nhóm công nghệ chiến lược với 35 sản phẩm công nghệ trọng điểm. Hệ sinh thái KHCN tiếp tục được mở rộng khi có 53 tổ chức đạt trình độ khu vực và quốc tế, cùng với 6 khu công nghệ cao đang hoạt động hiệu quả. Tỷ trọng xuất khẩu sản phẩm công nghệ cao đạt gần 50% tổng kim ngạch, phản ánh xu hướng chuyển dịch tích cực của nền kinh tế sang các ngành có giá trị gia tăng cao.

Trên bảng xếp hạng quốc tế, Việt Nam đứng thứ 44/139 quốc gia về chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu, trong khi hệ sinh thái khởi nghiệp xếp thứ 55 thế giới. Đây là nền tảng quan trọng để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong bối cảnh kinh tế số đang phát triển mạnh mẽ.

Một điểm sáng nổi bật là sự phát triển nhanh của hạ tầng số. Tính đến cuối tháng 3/2026, tỷ lệ phủ sóng 5G đạt 91,9% dân số với hơn 22,4 triệu thuê bao. Tốc độ Internet di động của Việt Nam xếp thứ 14 thế giới, trong khi Internet cố định đứng thứ 9 và hạ tầng IPv6 xếp thứ 7 toàn cầu.

Kinh tế số cũng ghi nhận mức tăng trưởng ấn tượng. Số lượng doanh nghiệp công nghệ số tăng thêm gần 1.400 đơn vị. Xuất khẩu sản phẩm công nghệ số đạt hơn 45 tỷ USD, tăng 32,2%, trong khi tổng kim ngạch đạt 172 tỷ USD. Thương mại điện tử đạt quy mô 36 tỷ USD, gấp ba lần so với năm 2020.

Những con số này cho thấy chuyển đổi số không còn là xu hướng mà đã trở thành động lực tăng trưởng quan trọng của nền kinh tế.

Dù đạt nhiều kết quả tích cực, Thủ tướng Lê Minh Hưng thẳng thắn chỉ ra hàng loạt tồn tại. Trước hết là tình trạng chậm trễ trong triển khai một số nhiệm vụ, cùng với việc ban hành văn bản hướng dẫn còn chưa kịp thời.

Cơ chế huy động nguồn lực xã hội, hợp tác công tư, đặt hàng nghiên cứu hay khoán chi vẫn còn vướng mắc. Đặc biệt, sự liên kết giữa nghiên cứu – đào tạo – doanh nghiệp – thị trường còn lỏng lẻo, khiến việc thương mại hóa kết quả nghiên cứu chưa đạt kỳ vọng.

Ngoài ra, các “nút thắt” lớn vẫn tồn tại ở hạ tầng số, dữ liệu số, nền tảng số, cũng như nguồn nhân lực chất lượng cao. Việc xây dựng hệ sinh thái dữ liệu quốc gia, chia sẻ và khai thác dữ liệu phục vụ quản trị và phát triển kinh tế - xã hội vẫn chưa đồng bộ.

Trước bối cảnh đó, người đứng đầu Chính phủ nhấn mạnh yêu cầu cấp thiết phải thay đổi cách tiếp cận. Theo đó, Việt Nam cần ưu tiên nguồn lực cho các lĩnh vực công nghệ cao, công nghệ lõi và công nghệ chiến lược, bảo đảm thực hiện mục tiêu dành ít nhất 3% tổng chi ngân sách nhà nước cho KHCN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số theo tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW.

Không chỉ tăng chi, Thủ tướng yêu cầu phải đổi mới tư duy quản lý, chuyển từ hỗ trợ đầu vào sang hỗ trợ theo kết quả đầu ra. Điều này đồng nghĩa với việc chấp nhận rủi ro có kiểm soát trong nghiên cứu khoa học, đồng thời tăng quyền tự chủ cho các tổ chức KHCN.

Đặc biệt, Việt Nam phải hướng tới làm chủ công nghệ lõi, không chỉ dừng ở tiếp thu hay chuyển giao. Các công nghệ nền tảng như trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, công nghệ số… cần được phát triển đồng bộ, trở thành “xương sống” của nền kinh tế số.

Thủ tướng cũng đặt ra các mục tiêu cụ thể cho giai đoạn tới: tỷ trọng kinh tế số đạt 30% GDP; trên 40% doanh nghiệp có hoạt động đổi mới sáng tạo; thương mại điện tử tăng trưởng bình quân 23–25% mỗi năm.

Song song với đó, 100% dịch vụ công đủ điều kiện phải được cung cấp trực tuyến toàn trình, hướng tới một Chính phủ số thực chất, hiệu quả. Đây là những chỉ tiêu tham vọng, đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, ngành và địa phương.

Nhắc lại chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Thủ tướng nhấn mạnh: năm 2026 phải là năm tạo ra bước đột phá về KHCN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Kết quả thực chất sẽ là thước đo quan trọng nhất, thay vì chỉ dừng ở kế hoạch hay khẩu hiệu.

Để đạt mục tiêu này, Bộ Khoa học và Công nghệ được giao hàng loạt nhiệm vụ cấp bách, trong đó có việc hoàn thành ngay các nhiệm vụ quá hạn, trình ban hành các nghị định hướng dẫn Luật Chuyển đổi số và Luật Trí tuệ nhân tạo.

Thủ tướng Lê Minh Hưng chỉ rõ các định hướng quan trọng thời gian tới - Ảnh: VGP/Nhật Bắc

Đồng thời, cần rà soát, tinh gọn danh mục công nghệ chiến lược, lựa chọn một số nhiệm vụ trọng tâm gắn với các bài toán lớn của quốc gia để triển khai ngay với lộ trình rõ ràng, có thể đo lường.

Một nội dung quan trọng khác là tái cấu trúc hệ thống nghiên cứu và đổi mới sáng tạo. Thủ tướng yêu cầu quyết liệt sắp xếp lại 16 phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia, đồng thời xây dựng cơ chế đột phá cho sàn giao dịch khoa học công nghệ.

Việc hỗ trợ định giá tài sản trí tuệ, đăng ký sở hữu trí tuệ, cũng như xây dựng tiêu chí công nhận trung tâm đổi mới sáng tạo và doanh nghiệp đổi mới sáng tạo sẽ tạo nền tảng cho thị trường KHCN phát triển lành mạnh.

Việc thành lập các tổ công tác liên ngành nhằm điều phối giữa doanh nghiệp, viện nghiên cứu và trường đại học được xem là giải pháp quan trọng để tránh lãng phí nguồn lực và nâng cao hiệu quả đầu tư.

Trong quý II/2026, Bộ Khoa học và Công nghệ sẽ phối hợp với các cơ quan liên quan xây dựng Nghị quyết về mô hình phát triển đất nước dựa trên KHCN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, trình Trung ương xem xét.

Cùng với đó là việc hoàn thiện các chiến lược lớn như Chiến lược chuyển đổi số quốc gia đến năm 2035, Khung kiến trúc quốc gia số, Chương trình quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo và cơ chế vận hành Quỹ phát triển trí tuệ nhân tạo.

Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu ngày càng khốc liệt, chỉ những quốc gia làm chủ được công nghệ chiến lược mới có thể bứt phá. Với những quyết sách mạnh mẽ và định hướng rõ ràng, Việt Nam đang đứng trước cơ hội lớn để chuyển mình trở thành nền kinh tế dựa trên tri thức và công nghệ trong những năm tới.

Khánh Ngân

Có thể bạn quan tâm

Phát triển cơ khí Việt Nam giai đoạn 2026 đến 2045 gắn với nâng cao giá trị tăng thêm

Giai đoạn 2026–2045, cơ khí Việt Nam cần đồng thời mở rộng sản xuất và nâng giá trị tăng thêm thông qua năng lực thiết kế, chế tạo, tích hợp hệ thống. Bằng phân tích cơ cấu ngành, kịch bản tăng trưởng và độ nhạy, bài báo làm rõ khoảng cách năng lực và yêu cầu chuyển đổi chất lượng tăng trưởng. Trên cơ sở đó, đề xuất tổ chức hỗ trợ theo dự án và đơn hàng; gắn chuyển giao công nghệ với quyền sử dụng, sửa đổi thiết kế; phát triển nhà cung ứng theo yêu cầu bên mua; phân bổ nguồn lực và đánh giá theo năng lực thực tế. Kết quả tính toán minh họa vai trò của việc nâng tỷ trọng giá trị tăng thêm, làm cơ sở lựa chọn chính sách phát triển ngành.

Chiến lược phát triển ngành cơ khí Việt Nam: Những kết quả đạt được và yêu cầu chuyển đổi chiều sâu

Sau hơn bảy năm triển khai Quyết định số 319/QĐ-TTg ngày 15/3/2018 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển ngành cơ khí Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2035, ngành cơ khí đã có những bước phát triển đáng ghi nhận về quy mô sản xuất, chủng loại sản phẩm và năng lực chế tạo. Tuy nhiên, để thực sự trở thành ngành công nghiệp nền tảng, có khả năng tự chủ công nghệ và tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu, cơ khí Việt Nam vẫn cần vượt qua những điểm nghẽn mang tính cơ cấu.

Xây dựng Chiến lược phát triển ngành Cơ khí Việt Nam đến năm 2035: Từ mở rộng quy mô đến làm chủ công nghệ

Ngành Cơ khí Việt Nam đang đứng trước cơ hội lớn từ làn sóng đầu tư vào năng lượng, đường sắt, khai khoáng và công nghiệp chế biến, chế tạo. Tuy nhiên, để biến tiềm năng thị trường thành năng lực sản xuất thực chất, chiến lược phát triển giai đoạn 2026–2045 cần tập trung vào làm chủ công nghệ, nâng cao năng lực doanh nghiệp nội địa và tạo cơ chế để doanh nghiệp Việt tham gia sâu hơn vào các dự án công nghiệp trọng điểm.

Hội nghị Khoa học và Công nghệ Cơ khí - Động lực lần thứ XIX: Thúc đẩy nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và kết nối thực tiễn

Ngày 18/10/2026, tại Trường Đại học Thủy lợi (Hà Nội), Hội nghị Khoa học và Công nghệ Cơ khí - Động lực lần thứ XIX năm 2026 đã diễn ra, quy tụ đông đảo các nhà khoa học, chuyên gia, giảng viên, đại diện cơ sở đào tạo, viện nghiên cứu và doanh nghiệp. Hội nghị tiếp tục khẳng định vai trò là diễn đàn học thuật quan trọng, góp phần thúc đẩy nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo và tăng cường kết nối giữa đào tạo, nghiên cứu với thực tiễn sản xuất.

Thương hiệu quốc gia Việt Nam: Từ khẳng định chất lượng đến nâng tầm vị thế

Tối 16/10/2026, tại Hà Nội, Hội đồng Thương hiệu quốc gia Việt Nam và Bộ Công Thương tổ chức Lễ Công bố sản phẩm đạt Thương hiệu quốc gia Việt Nam lần thứ 10 năm 2026, với chủ đề “Dòng chảy Thương hiệu Việt”.
0982254465
  • Zalo
  • Messenger
  • Back to top