Sự kiện - Vấn đề

Bán quặng rẻ cho Trung Quốc, mua lại giá gấp 3

12/06/2018 06:06
467 Lượt xem
Sau thời gian dài xuất khẩu lượng lớn than đá, dầu thô, quặng khoáng sản giờ đây Việt Nam đang phải mua về với giá đắt gần 3 lần.

Thống kê của mới nhất của Tổng cục Hải quan cho thấy, 5 tháng qua Việt Nam đã tăng cường nhập khẩu than đá: khoảng 8,4 triệu tấn, đạt kim ngạch hơn 985 triệu USD, lượng nhập tăng 50%, giá trị tăng gần 70% so với cùng kỳ năm trước.

Tính bình quân, giá than nhập khẩu về Việt Nam là 2,67 triệu đồng/tấn, giá than nhập thấp hơn 330.000 đồng/tấn so với giá than xuất đi.

Điều này cho thấy, Việt Nam đang tăng cường nhập các loại than cám, than phẩm cấp thấp để xuất những loại than giá trị cao như antraxit, than đá vỉa, than cốc.

Ngoài các đơn vị như Tập đoàn Than - khoáng sản, Tập đoàn Điện lực được nhập khẩu than, còn có nhiều doanh nghiệp FDI được cấp quyền này nhằm phục vụ các nhà máy phát điện như Formosa, các khu chế xuất, nhà máy nhiệt điện đầu tư theo hình thức BOT.

Các thị trường lớn xuất khẩu than cho Việt Nam như Nga, Trung Quôc, Indonesia, trong đó Indonesia là nước cung cấp than nhiều nhất với giá rẻ nhất cho Việt Nam.

Cụ thể, Trung Quốc nhập hơn 307.000 tấn, trị giá 112 triệu USD, bình quân hơn 8 triệu đồng/tấn.

Indonesia là thị trường cung cấp than nhiều nhất cho Việt Nam với hơn 4,5 triệu tấn, giá trị hơn 318 triệu USD, bình quân  1,6 triệu đồng/tấn.

Nga cung cấp gần 800.000 tấn, giá trị kim ngạch hơn 83 triệu USD, giá nhập bình quân 2,3 triệu đồng/tấn.

Trong 5 tháng đầu năm, cả nước nhập hơn 5,1 triệu tấn quặng và khoáng sản, kim ngạch hơn 445 triệu USD, tăng 126% về lượng và 122% về giá trị.

Tính trung bình, mỗi tấn quặng có giá gần 2 triệu đồng. Giá quặng và khoáng sản nhập khẩu về tăng gấp đôi so với giá mà Việt Nam xuất đi, trung bình chỉ 1 triệu đồng/tấn.

Chủ yếu quặng và khoáng sản nhập của Việt Nam là Thái Lan với hơn 510.000 tấn, kim ngạch hơn 23 triệu USD, giá bình quân hơn 1 triệu đồng/tấn.

Quặng xuất xứ Trung Quốc đạt 136.000 tấn, kim ngạch hơn 31 triệu USD, giá trung bình hơn 5 triệu đồng/tấn.

Qua các con số, có thể thấy một cách rõ ràng, hàng hóa của Trung Quốc bán cho Việt Nam đang ở mức cao ngất ngưởng so với các thị trường khác và cao hơn nhiều so với lượng mà Việt Nam bán đi.

Đường nào cho than, khoáng sản?

GS.TSKH Lê Huy Bá, nguyên Viện trưởng Viện Khoa học công nghệ và Quản lý môi trường cho biết thực trạng bán rẻ quặng và khoáng sản của Việt Nam cho Trung Quốc không hề mới mà đã diễn ra nhiều năm nay và những nhà kinh tế, nhà khoa học cũng đã lên tiếng nhiều lần.

Theo vị chuyên gia, quan hệ kinh tế giữa các quốc gia là sòng phẳng, do đó, Việt Nam không nên và không cần bán rẻ tài nguyên cho bất kỳ quốc gia nào.

Ông Bá nói: "Tôi đã nhiều lần đặt câu hỏi: Tại sao Việt Nam lại bán rẻ quặng và khoáng sản cho Trung Quốc? Đánh đổi như thế để được cái gì? Nếu một số loại quặng quý hiếm như đất hiếm và các loại quặng khác có giá trị cao mà bán như thế thì rất nguy hiểm. Việc này cơ quan quản lý Nhà nước và cả TKV phải giải thích cho rõ. Khoáng sản là tài nguyên không tái tạo được, được bao nhiêu cứ bán hết thì còn gì cho con cháu đời sau?"

"Khoáng sản là tài sản của nhân dân, bán rẻ thì chỉ có dân thiệt, còn doanh nghiệp chỉ cần tiền trao cháo múc, tiền tươi thóc thật cầm về, tiêu cực cũng nảy sinh từ đây"- GS.TSKH Lê Huy Bá trăn trở.

GS.TSKH Lê Huy Bá cho rằng, khoảng cách địa lý gần hay xa không phải là vấn đề đối với mua bán tài nguyên thiên nhiên mà do người xuất khẩu không biết "của đau con xót". "Việt Nam đã có bài học: bán than cho Trung Quốc rồi lại nhập than Trung Quốc về với giá cao nhưng có vẻ học bao nhiêu thì vẫn không có gì thay đổi" - ông nói.

Vị chuyên gia cho hay: Trung Quốc hạn chế khai thác khoáng sản, nhưng lại gom quặng, liên kết khai thác quặng ở nước ngoài, nhất là quặng quý hiếm để đưa về nước. Sau này, khi thế giới thiếu họ mới bung ra bán với giá cao, đó là một kiểu tích trữ đầu cơ.

Có những quặng rất cần cho cuộc cách mạng công nghệ 4.0, cho công nghệ vũ trụ mà vì trình độ Việt Nam chưa cao, không biết nó rất quý, cứ bán đơn giản như vậy thì rất nguy hiểm.

Trong khi đó, GS.TSKH Phạm Phố, nguyên Hiệu trưởng Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật Sài Gòn cho rằng, cách quản lý khoáng sản đang được giao cho Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) - đơn vị xuất phát từ công ty than, quản lý khoáng sản là không hợp lý.

Mà tài sản lớn của quốc gia lẽ ra phải giao cho đơn vị địa chất, tức mỏ và luyện kim.

Ở Việt Nam bấy lâu nay tồn tại tình trạng đầu tư không đúng hướng. Muốn nước mạnh thì phải đầu tư cơ khí, luyện kim - xương sống của nền kinh tế, nhưng chúng ta lại đi vào cái vụn vặt, xuất khẩu thô. 

Ông lấy ví dụ, trước đây, Liên Xô giúp Việt Nam khai thác quặng thiếc ở Cao Bằng rất tốt, tinh luyện ra thiếc thành phẩm. Các loại khoáng sản khác của Việt Nam cũng đều phải làm như thế.

Nhưng tới nay, phải ngừng lại việc chỉ nghĩ đến chuyện bán sản phẩm được chế biến từ quặng hay xuất quặng tinh. Cần phải hạn chế và tiến tới cấm xuất thô vì xuất thô có giá rẻ mạt, thu không được bao nhiêu tiền.

Trong khi đó, nếu xuất khẩu bằng sản phẩm thì giúp giải quyết công ăn việc làm, thu lãi rất cao.

Phải xây dựng các nhà máy, công nghệ chế biến, bảo quản, tạo công ăn việc làm cho người dân. Đó là chính sách lâu dài mà Nhà nước phải đứng ra giải quyết.

"Tài nguyên khoáng sản không phải của trời cho, muốn giao cho ai thì giao, khai thác kiểu gì cũng được" - ông nói.

Việt Anh (theo Cúc Phương http://baodatviet.vn)

Từ khóa:

Có thể bạn quan tâm

Việt Nam “chốt” loạt cam kết kinh tế tỷ đô với Trung Quốc: Định hình trục hợp tác mới từ hạ tầng đến công nghệ

Chuyến thăm cấp Nhà nước kéo dài 4 ngày của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tới Trung Quốc (từ 14–17/4/2026) đã khép lại với hàng loạt thỏa thuận kinh tế quan trọng, được đánh giá mang tính bước ngoặt cho quan hệ song phương trong giai đoạn phát triển mới. Từ các dự án hạ tầng quy mô lớn như đường sắt xuyên biên giới, đến hợp tác trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo (AI), năng lượng, thương mại và đào tạo nhân lực, hai bên đang từng bước định hình một cấu trúc liên kết kinh tế sâu rộng hơn, hướng tới mục tiêu dài hạn đến năm 2030 và tầm nhìn 2045.

Phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị quán triệt và triển khai Nghị quyết Hội nghị Trung ương 2 khóa XIV

Sáng 13/4, tại Hà Nội, Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã tổ chức Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm dự và phát biểu chỉ đạo Hội nghị. Tạp chí Cơ khí Việt Nam trân trọng giới thiệu toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm.

Hành động đột phá, biến quyết sách thành kết quả

Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đặt ra yêu cầu Nghị quyết không chỉ đúng mà phải được thực hiện bằng hành động quyết liệt, hiệu quả thực chất, kiên quyết chống hình thức, không để xảy ra “độ trễ” nghị quyết. Trao đổi với Báo Quân đội nhân dân, Tổng Bí thư-Chủ tịch nước Tô Lâm, Bí thư Quân ủy Trung ương nhấn mạnh tinh thần phải đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo, siết chặt kỷ luật thực thi, tăng cường công tác chính trị, tư tưởng, kiểm tra, giám sát và tổ chức hành động đến cùng để đưa Nghị quyết Đại hội XIV nhanh chóng đi vào cuộc sống.

Phát biểu của đồng chí Trịnh Văn Quyết tại Lễ Khai mạc Liên hoan Phát thanh toàn quốc lần thứ XVII

Tối 11/4 tại Quảng trường 30/10, tỉnh Quảng Ninh, Liên hoan Phát thanh toàn quốc lần thứ XVII chính thức khai mạc, khẳng định vai trò của phát thanh trong kỷ nguyên số và lan tỏa thông điệp “Phát thanh vì Việt Nam hùng cường, thịnh vượng”. Tạp chí Cơ khí Việt Nam trân trọng giới thiệu toàn văn bài phát biểu của đồng chí Trịnh Văn Quyết - Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương.

Thủ tướng Lê Minh Hưng chủ trì phiên họp đầu tiên: Quyết liệt tháo gỡ điểm nghẽn, thúc đẩy tăng trưởng hai con số

Sáng 9/4, tại trụ sở Chính phủ, đồng chí Lê Minh Hưng – Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Đảng ủy Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ – đã chủ trì cuộc họp đầu tiên của Thường trực Đảng ủy Chính phủ và Thường trực Chính phủ nhiệm kỳ 2026–2031. Đây không chỉ là phiên làm việc mang tính khởi động cho bộ máy lãnh đạo mới, mà còn đặt nền tảng cho một giai đoạn điều hành với yêu cầu cao về tốc độ, hiệu quả và đổi mới tư duy phát triển.
0904177637
  • Zalo
  • Messenger
  • Back to top